Kiến thức

Glucozo-Thư viện Stem

Bạn đang xem: Glucozo-Thư viện Stem

Glucozo

Glucozo!

Glucose, còn được gọi dextrose, một trong một nhóm carbohydrate được gọi đường đơn (monosaccharides). Glucose (từ glykys Hy Lạp, “ngọt“) công thức phân tử C6H12O6. được tìm thấy trong các bộ phận của cây, đặc biệt nhiều trong các loại trái cấy, tiêu biểu trong nho chín, do vậy đường glucozo còn tên gọi khác đường nho, ngoài ra cũng nhiều trong  mật ong – chiếm khoảng 30% đường tự do lượng lớn lưu thông trong máu của động vật cao hơn. nguồn năng lượng trong chức năng tế bào, sự điều chỉnh sự trao đổi chất của rất quan trọng.
Công dụng của đường glucozo
Glucozo tác dụng dùng như thuốc, thuốc glucozo thể dạng viên nén, hoặc dung dịch truyền vào tĩnh mạch. Liều dùng áp dụng cho những người bị hạ đường huyết, loại đường duy nhất thể truyền vào tĩnh mạch. Dung dịch truyền thường nồng độ khoảng 5% hoặc 20% được gọi Huyết thanh ngọt”.
Glucozo một loại đường được dùng nhiều trong làm bánh nhằm đáp ứng yêu cầu giữ sản phẩm được lâu, mềm, khô, đặc biệt tạo độ mịn cho các loại bánh kem.

     Công thức cấu tạo phân tử                   Huyết thanh ngọt                  Dùng trong làm bánh
Quá trình lên men của glucozo
Trong những năm 1920, người ta phát hiện ra rằng, khi không không khí, chất chiết xuất từ ​​cơ sẽ xúc tác sự hình thành lactic từ glucose các hợp chất trung gian tương tự được hình thành trong quá trình lên men của ngũ cốc được tạo ra bởibắp. Một khái quát hóa quan trọng như vậy xuất hiện: các phản ứng lên men không phải đặc thù đối với hoạt động của nấm men còn xảy ra trong nhiều trường hợp sử dụng glucose khác.

Glycolysis, sự phân hủy của đường, ban đầu được định nghĩa vào năm 1930 như sự trao đổi chất của đường thành lactic. thể được định nghĩa thêm dạng lên men, đặc trưng của tế bào nói chung, trong đó glucose đường 6-carbon được chia thành hai phân tử của axit hữu cơ 3-cacbon, axit pyruvic (dạng pyruvate không ion hóa) với việc chuyển hóa năng lượng hóa học thành tổng hợp adenosine triphosphate (ATP). Pyruvate sau đó thể bị oxy hóa, với sự hiện diện của oxy, thông qua chu trình axit tricarboxylic, hoặc trong trường hợp không oxy, được giảm xuống axit lactic, rượu hoặc các sản phẩm khác. Trình tự từ glucose đến pyruvate thường được gọi con đường EmbdenMeyerhof, được đặt theo tên của hai nhà hóa sinh Đức vào cuối những năm 1920 thập niên 30, đã phân tích thử nghiệm các bước quan trọng trong chuỗi phản ứng đó.
Glucozo với con người
Carbohydrates, bao gồm cacbon, hydro oxy, nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể, cung cấp 4 kilocalories trên mỗi gram. Trong hầu hết các carbohydrate, các nguyên tố hydro oxy mặt trong cùng tỷ lệ 2: 1 như trong nước, do đócarbo” (đối với cacbon) hydrate” (đối với nước).
Đường glucozo, carbohydrate đơn giản nhiên liệu chính được sử dụng bởi não hệ thần kinh bởi các tế bào máu đỏ. Cơ bắp các tế bàothể khác cũng thể sử dụng glucozo cho năng lượng, mặc chất béo thường được sử dụng cho mục đích này. Bởi nguồn cung cấp glucozo ổn định rất quan trọng đối với các tế bào, glucozo trong máu được duy trì trong một phạm vi tương đối hẹp thông qua hoạt động của các kích thích tố khác nhau, chủ yếu insulin, dẫn dòng glucozo vào tế bào ; glucagon epinephrine, hai chất dẫn nguồn glucozo từ kho dự trữ.
thể lưu trữ một lượng nhỏ glucozo như glycogen, một dạng phức tạp của carbohydrate, trong gan mô cơ, điều này thể được chia nhỏ thành glucozo  được sử dụng như một nguồn năng lượng trong thời gian ngắn (một vài giờ) thời gian của hoạt động thể chất hoặc căng thẳng. Nếu lượng đường trong máu giảm xuống dưới mức bình thường (hạ đường huyết), thể bị suy yếu chóng mặt. Tăng đường huyết, như thể xảy ra trong bệnh tiểu đường, cũng nguy hiểm không thể không được điều trịMột số lượng tối thiểu carbohydrate cần thiết trong chế độ ăn uốngít nhất 50 đến 100 gram một ngày

Trong cơ thể người, hoạt động của glucozo xảy ra chủ yếu ở gan thận; dụ, sự tổng hợp glucose trong máu từ lactate trong gan một quá trình đặc biệt tích cực trong quá trình hồi phục sau khi gắng sứcbắp dữ dội. Mặc một số phản ứng trong con đường gluconeogenetic được xúc tác bởi các enzyme tương tự xúc tác trình tự ngược lại, glycolysis, hai bước quan trọng bị ảnh hưởng bởi các enzym khác. Bởi quá trình này được kiểm soát, trong số những thứ khác, do sự cân bằng giữa các kích thích tố khác nhau – đặc biệt cortisol từ vỏ thượng thận insulin từ tuyến tụykiến ​​thức vềchế kiểm soát rất quan trọng trong việc hiểu các bệnh chuyển hóa như đái tháo đường.

Glucozo bệnh đái tháo đường
Đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa carbohydrate đặc trưng bởi khả năng suy giảm củathể để sản xuất hoặc phản ứng với insulin do đó duy trì mức đường (glucozo) trong máu phù hợp.
Bệnh tiểu đường nguyên nhân chính dẫn đến bệnh tật tử vong, mặc những kết quả này không phải do tác động tức thời của chứng rối loạn này. Thay vào đó, chúng liên quan đến các bệnh phát triển do bệnh đái đường mãn tính. Chúng bao gồm các bệnh do các mạch máu lớn (bệnh mạch máu, bao gồm bệnh tim mạch vành bệnh động mạch ngoại biên) các bệnh do mạch máu nhỏ (bệnh mạch máu, bao gồm bệnh mạch máu võng mạc thận), cũng như các bệnh về dây thần kinh.

Insulin một hormone được tiết ra bởi các tế bào beta, được đặt trong các cụm tế bào trong tuyến tụy được gọi các đảo nhỏ của Langerhans. Vai trò của Insulin trong cơ thể kích thích các tế bào hấp thu glucozo để các tế bào thể sử dụng đường sinh năng lượng này. Bệnh nhân tiểu đường thể các tế bào beta rối loạn chức năng, dẫn đến giảm bài tiết insulin, hoặc các tế bào mỡ của chúng thể kháng lại tác dụng của insulin, dẫn đến giảm khả năng hấp thu chuyển hóa glucozo của các tế bào này. Trong cả hai trường hợp, lượng đường trong máu tăng lên, gây tăng đường huyết (lượng đường trong máu cao). Khi glucozo tích tụ trong máu, lượng đườngthừa này được bài tiết trong nước tiểu. Do lượng đường trong nước tiểu lớn hơn, nhiều nước bị đào thải, gây ra sự gia tăng thể tích nước tiểu tần suất đi tiểu cũng như khát nước. Các triệu chứng khác của bệnh tiểu đường bao gồm ngứa, đói, sụt cân suy nhược.
Người ta thể xác định glucozo nhằm đo lượng đường trong máu để xác định phát hiện trường hợp tăng hoặc giảm đường huyết, giúp ích cho việc chẩn đoán bệnh tiểu đường.
thể tiến hành xét nghiệm Glucozo một cách ngẫu nhiên, khi đói hoặc khi no. Nếu lấy mẫu đo đường huyết vào lúc đói thì thích hợp nhất 8 đến 10 tiếng nhịn đói.
Nồng độ đường huyết cao thường dấu hiệu của bệnh đái tháo đườngVậy nên, kết quả xét nghiệm Glucozo sở quan trọng để phát hiện chẩn đoán bệnh.
Nguồn: Sưu tầm và tổng hợp.

SHARE THIS

Chuyên mục: Kiến thức

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button