Kiến thức

The Fear of Ending a Relationship/Nỗi Lo Sợ Việc Kết Thúc Một Mối Quan Hệ – Ardent and Peaceful

Let us imagine that we know what we want – to leave a relationship – but that we are suffering from a problem which inhibits us from acting on our wishes: we can’t bear to cause another person pain, especially another person towards whom we feel a sense of loyalty, who has been kind to us, who looks up to us for their safety and their future, who has expectations of us and with whom we might have been planning a trip to another continent in a few months.

Hãy tưởng tượng rằng chúng ta biết mình muốn gì – kết thúc một mối quan hệ – nhưng chúng ta đang phải chịu đựng một vấn đề ngăn cản chúng ta hành động theo mong muốn của chính mình: chúng ta không thể chịu được việc gây ra nỗi đau cho người khác, nhất là khi chúng ta có cảm giác chung thủy với người đó, người đã tử tế với chúng ta, người trông chờ vào chúng ta với sự an toàn và tương lại của họ, người có kỳ vọng ở chúng ta, và là người mà chúng ta đã lên kế hoạch cho chuyến du lịch đến một châu lục khác trong vòng vài tháng tới.

Perhaps we have come near to telling them on a dozen occasions, but always pulled back at the last moment. We tell ourselves that we’ll get around to it ‘after the holidays’, ‘once their birthday party is over’, ‘next year’, ‘in the morning’, and yet the deadlines roll by and we are still here.

Có lẽ chúng ta đã suýt nói với họ trong cả tá dịp, nhưng chúng ta luôn rút lui ở giây phút cuối cùng. Chúng ta tự nhủ rằng chúng ta sẽ thực hiện điều đó “sau kỳ nghỉ”, “sau tiệc sinh nhật”, “năm sau”, “vào buổi sáng”, vậy mà thời hạn trôi đi và chúng ta vẫn dậm chân tại chỗ.

Our discomfort has to do with the thought of unleashing an appalling upset: they will dissolve into tears, there will be sobbing, which may last a very long time, there will be wailing, uncontrollable cries and mountains of wet tissues – all because of a truth that currently lurks in the recesses of our cranium. We will have been responsible for dragging a formerly competent and independent person into chaos; it’s more than we can bear. 

Nỗi lo lắng của chúng ta liên quan đến ý nghĩ về việc giải phóng một tình trạng rối loạn khủng khiếp: họ sẽ giàn giụa nước mắt, sẽ có những tiếng thổn thức có thể kéo dài rất lâu, sẽ có những tiếng than vãn, tiếng khóc không kiểm soát cùng với hàng đống giấy ướt – tất cả chỉ vì một sự thật hiện đang ẩn nấp trong thâm tâm chúng ta. Chúng ta sẽ phải chịu trách nhiệm cho việc lôi kéo một người vốn giỏi giang và độc lập vào sự hỗn loạn; việc đó thật quá sức chịu đựng của chúng ta.

It sounds peculiar, but it might be better for us to spend the next few decades unfulfilled than experience even five minutes of unbounded upset. In another part of our minds, there may also be a terror. More than we realise day to day, we’re scared of our partner. By telling them it’s over, we risk a discharge of titanic anger. 

Mặc dù nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng có lẽ sẽ tốt hơn nếu chúng ta dành vài thập kỷ tới không được toại nguyện hơn là phải trải qua năm phút của tình trạng rối loạn vô tận này. Trong một phần khác của tâm trí chúng ta, có thể có cả một nỗi khiếp sợ. Hơn cả việc chúng ta nhận thức rõ ngày qua ngày, chúng ta sợ hãi người yêu của mình. Bằng việc nói họ rằng mọi thứ đã chấm dứt, chúng ta mạo hiểm việc hứng chịu một cơn giận dữ khổng lồ.

They may scream at us, accuse us of leading them on, of being a charlatan and a disgrace. There might be violence and danger. There is a certain symmetry to our fears. We may tell them and by so doing, kill them. Or we may tell them and they will turn around and kill us; kill or be killed. No wonder we put off the news.

Họ có thể la hết vào mặt chúng ta, buộc tội chúng ta dẫn dắt họ, buộc tội chúng ta là kẻ bịp bợm, một sự nhục nhã. Bạo lực và nguy hiểm có thể sẽ xảy ra. Có một sự đối xứng nhất định đối với nỗi sợ của chúng ta. Chúng ta có thể nói với họ và bằng cách đó, giết họ luôn. Hoặc chúng ta có thể nói với họ rồi họ sẽ quay lại và giết chúng ta; giết hoặc bị giết. Không có gì lạ khi chúng ta chần chừ trong việc nói ra quyết định.

The reasonable adult part of our minds knows that these fears of killing and dying can’t be true – but this may weigh very little in how we unconsciously feel. Wielding sensible arguments can at points be as effective as telling a person with vertigo that the balcony won’t collapse or a person with depression that there are perfectly good grounds to be cheerful.

Phần trưởng thành biết điều trong tâm trí chúng ta biết rằng những nỗi sợ về giết chóc này không thể đúng sự thật được – nhưng điều này có thể ảnh hưởng rất ít đến cách chúng ta cảm nhận mọi thứ trong vô thức. Việc vận dụng những lập luận hợp lý vào những thời điểm khác nhau có thể sẽ hiệu quả như nói với một người đang chóng mặt rằng ban công sẽ không sụp đổ hoặc một người trầm cảm rằng có những điều tốt đẹp để họ cảm thấy vui khi nghĩ đến.

A lot of the mind is not amenable to hard-headed logic. In an ancestral part of us, we simply operate with a sense that going against the wishes of a significant person will mean either endangering their lives or our own. To explain the origins of such terrors, childhood is the place to turn, as it always is when trying to account for disproportionate and limitless fears.

Rất nhiều tâm trí không tuân theo logic thiết thực. Một phần tổ tiên trong chúng ta, chúng ta chỉ đơn giản hoạt động với ý thức rằng việc đi ngược lại mong muốn của một người có quan trọng có nghĩa là chúng ta đang gây nguy hiểm cho cuộc sống của họ hoặc của chính chúng ta. Để giải thích ngọn nguồn của những nỗi sợ kiểu này, tuổi thơ ấu chính là nơi để nhìn vào, luôn luôn như vậy, khi cố giải thích những nỗi sợ vô hạn và không cân xứng.

Perhaps we are the offspring of a fragile parent whom we loved profoundly and whom it would have broken our hearts to disappoint. They might have been struggling with their mental or physical health, they might have been maltreated by another adult. Maybe they were relying on us to hold them back from despair or justify their whole lives.

Có lẽ chúng ta là con của một người cha/mẹ mong manh, người mà chúng ta yêu thương sâu sắc và trái tim chúng ta sẽ tan nát nếu như ta làm họ thất vọng. Có thể họ đã phải vật lộn với sức khỏe thế chất hoặc tâm trí, họ có thể đã bị ngược đãi bởi một người lớn khác. Có thể họ đã dựa vào chúng ta để giữ họ khỏi nỗi tuyệt vọng hoặc để biện minh cho cuộc đời họ.

We may have derived an early impression that we had to conform to their idea of us if we weren’t to cause them grave damage, that our wishes and needs could easily have driven them to the edge, that by being more ourselves, we might have broken their spirit. We simply loved them too much, and at the same time, felt them to be too weak, to ask them to take on our reality. 

Chúng ta có nhận được ấn tượng ban đầu rằng chúng ta phải tuân theo ý tưởng của họ về chúng ta nếu chúng ta không gây ra thiệt hại nghiêm trọng, rằng ước muốn và nhu cầu của chúng ta có thể dễ dàng khiến họ bực mình, rằng khi chúng ta là chính mình, chúng ta có thể đã làm suy sụp tinh thần của họ. Chúng ta chỉ đơn giản là yêu họ rất nhiều, và cùng lúc đó, chúng ta lại cảm thấy họ quá nhu nhược để chấp nhận sự thật.

We can be three years old and, without knowing any of this consciously, have taken such messages on board. And as a result, we might then have learnt to play very quietly, to reign in our boisterousness or mischievousness, our aggression or our intelligence, to be extremely cheerful and helpful around the house, to be ‘no trouble at all’ towards a beloved adult who already seemed to have far too much on their plate.

Chúng ta có thể ba tuổi và không biết bất kỳ điều gì trong những việc này một cách có ý thức, có thể chấp nhận điều này dễ dàng. Và kết quả là, chúng ta phải học cách chơi thật yên lặng, cách chế ngự sự ầm ỹ hoặc tính tinh quái, tính hung hăng hoặc trí thông minh, cách để trở nên cực kỳ vui vẻ và có ích ở trong nhà, để không quấy rầy cha/mẹ thân yêu, người mà dường như đã có quá nhiều thứ để mà lo lắng rồi.

Alternatively, we might have spent our most vulnerable years around a person who responded to any frustration caused by another person with extreme anger. It can be hard to appreciate just how terrifying an enraged adult can seem to a sensitive two year old.

Thay vào đó, chúng ta có thể đã dành những năm tháng dễ bị tổn thương nhất của chúng ta ở bên người luôn phản ứng với bất kỳ sự thất vọng gây ra bởi người khác bằng sự tức giận cực độ. Thật sự rất khó có thể hiểu rõ một người lớn đang nổi giận trông đáng sợ như thế nào đối với một đứa trẻ hai tuổi nhạy cảm.

Another adult might know that this red-faced figure of course wasn’t going to murder anyone, they’re just letting rip for a while and will pick up the pieces of a smashed vase soon enough, but that’s not at all how it can seem through a child’s eyes.

Một người lớn khác có thể biết là cái người với khuôn mặt đỏ kia sẽ chẳng đi giết ai cả, họ chỉ không can thiệp & để mọi sự trôi đi một lúc và sua đó sẽ nhặt những mảnh vỡ của lọ hoa khi đến lúc, nhưng đó không phải là cách mọi thứ diễn ra trong mắt một đứa trẻ.

How are they to know that this person many times their size wouldn’t just go one step further and, at the end of their ranting, pick up a hammer and smash their skull in? How can they be certain that the momentarily genuinely out of control parent who just broke the door wouldn’t for that matter throw them out of the window too.

Làm sao chúng có thể biết là cái người to lớn hơn chúng gấp mấy lần sẽ không làm tới, và đến cuối trận nổi giận đó, không nhặt búa lên và đập vỡ sọ của chúng? Làm sao chúng có thể chắc chắn rằng người cha/mẹ thật sự chỉ mất kiểm soát trong giây phúc đó, người vừa mới phá cửa cũng sẽ không ném chúng ra ngoài cửa sổ.

Child murder may be entirely alien to the furious adult, but that’s not how it can strike a sensitive offspring. One doesn’t have to actually murder anyone to come across – to an unformed mind – as someone who seriously might.  No wonder we might be a bit scared of sharing some awkward news.

Giết trẻ em có thể là một việc xa lạ đối với người lớn giận dữ, nhưng đó không phải cách nhìn nhận của một đứa con nhạy cảm. Một người không thực sự phải giết bất cứ ai để ảnh hưởng – đến một tâm trí non nớt – như một người thực sự có thể làm điều đó. Chả có gì ngạc nhiên khi chúng ta hơi lo sợ về việc chia sẻ một số tin tức khó xử.

Our minds are freighted with fears that stem from things that happened under precise circumstances long ago but that continue to have a potent, subterranean, scarcely recognised and immense force in our lives today. By taking stock of the past, the task is to acknowledge that these fears are very real but only in a very limited place: our own minds.

Tâm trí chúng ta được chuyển cùng với những nội sợ xuất phát từ những sự việc xảy ra trong những hoàn cảnh đặc biệt từ rất lâu rồi nhưng lại tiếp tục có một sức ảnh hưởng ngầm đầy mạnh mẽ, hiếm khi bị nhận ra trong cuộc sống chúng ta ngày nay. Bằng cách nắm giữ quá khứ, nhiệm vụ của chúng ta là phải thừa nhận những nỗi sợ này là có thật, nhưng chỉ ở một nơi rất hạn chế: tâm trí của chúng ta.

They don’t belong to adult reality. The catastrophe we fear will happen has already happened: we have already experienced someone who seemed to risk killing themselves if the news grew too bad – and someone who looked like they were perhaps going to kill whomever displeased them.

Chúng không thuộc về thực tại của người lớn. Thảm họa mà chúng ta lo sợ sẽ xảy ra đã xảy ra rồi: chúng ta đã trải qua việc một người dường như có nguy cơ tự sát nếu như tin tức trở nên rất tệ – và một người trông có vẻ như họ sẽ giết ai làm phật lòng họ.

But these issues are firmly located in another era. We need to take on board an always unlikely-sounding thought, we are now adults, which means, there is a robustness to ourselves and to our dealings with others.

Thế nhưng, những vấn đề này nằm ởmột thời đại khác. Chúng ta cần phải hình thành một ý nghĩ rất kêu, rằng bây giờ chúng ta đã lànhững người trưởng thành, điều đó có nghĩa là chúng ta phải mạnh mẽ với bản thân và khi đối phó với người khác.

Another adult is highly unlikely to collapse on us and if they do, there are plenty of measures we can take. We will know how to help them cope with their grief, directly and indirectly. It may seem as if it will never end, but that is a child’s reasoning, not an adult’s.

Một người lớn khác rất ít có khả năng là sẽ suy sụp trước mặt chúng ta, và cho nếu như việc đó xảy ra, chúng ta sẽ có nhiều cách để xử trí. Chúng ta sẽ biết cách để giúp họ đương đầu với nỗi đau, trực tiếpvà gián tiếp. Chuyện đó có vẻ như sẽ không bao giờ kết thúc, nhưng đó là lập luận của một đứa trẻ, chứ không phải của người lớn.

In reality, it will be very bad for a few hours, or days or weeks, but then eventually, as happens, they will get over it. They will recover their good humour, they will wake up one morning and see the world hasn’t ended and that they know how to go on.

Trên thực tế, chuyện đó sẽ cực kỳ tệ trong một vài giờ, hoặc ngày hoặc tuần, nhưng cuối cùng, họ cũng sẽ vượt qua chuyện đó. Họ sẽ tìm lại được tâm trạng vui vẻ của họ, họ sẽ thức dậy vào một buổi sáng và nhận ra rằng thế giới chưa hề kết thúc, và họ biết cách để sống tiếp.

Similarly, they won’t actually try to pick up the nearest axe and chop us into small pieces. They may be furious, they may shout, there may be some ugly words – but again, we are now tall and independent, we can get away, in extremis, we have the number of the police and a lawyer, we can let the fury vent, and like a well-built bridge in a hurricane, be utterly confident that we can withstand anything that will come our way.

Tương tự, họ sẽ không thực sự nhặt lên chiếc rìu gần nhất và chặt chúng ta thành những mảnh nhỏ. Họ có thể sẽ tức giận, có thể sẽ la hét, và có thể sẽ dùng những từ ngữ gây khó chịu – nhưng, một lần nữa, chúng ta bây giờ đã cao lớn và độc lập, chúng ta có thể bỏ đi, hoặc trong trường hợp xấu nhất, chúng ta có số điện thoại củacông an và luật sư, chúng ta có thể để cơn giận trôi đi, và giống như một cây cầu vững chãi giữa một cơn bão, hãy hoàn toàn tự tin rằng chúng ta có thể đương đầu với những gì sẽ xảy ra với chúng ta.

To further lend us courage, we should remember a distinction between being kind and seeming kind. It can look as if the kind thing to do is never to anger or distress someone – and therefore, never to give a person we have loved unwelcome news. But that is to overlook the more insidious ways in which we can ruin someone’s life.

Để có thêm can đảm, chúng ta nên nhớ đến sự khác biệt giữa làm người tử tế và trông có vẻ tử tế. Việc không bao giờ chọc tức hoặc làm người khác đau khổ trông có vẻ như là một điều tử tế – và do đó, chúng ta không bao giờ báo tin xấu với Nhưng đấy là chúng ta đã bỏ qua những cách chúng ta có thể âm thầm hủy hoại cuộc sống của người khác.

To stay with a person because we wish to avoid a few hours of unpleasantness is no favour to them – if we then go on to be bitter, mean, snide, unfaithful and depressed around them for the next few decades. We’re not helping someone by sparing them a bad break up scene, if we then deliver a life-long foot-dragging scene.

Phải chịu đựng một mối quan hệ vì chúng ta muốn tránh một vài tiếng không dễ chịu không phải là một ân huệ cho họ – nếu sau đó chúng ta trở nên đau khổ, xấu xa, không chung thủy và chán nản khi ở bên họ trong một vài thập kỷ tới. Chúng ta không có giúp đỡ ai bằng cách tránh một cảnh chia tay tồi tệ, nếu như sau đó chúng ta đem lại sự miễn cưỡng kéo dài cả đời.

A surprising amount of the misery of the world comes from people being overly keen to appear kind, or rather, too cowardly to cause others short term pain. The truly courageous way to leave is to allow ourselves to be hated for a while by someone who still loves us.

Thật đáng kinh ngạc khi một lượng lớn sự đau khổ trên thế giới đều đến từ những người quá quan tâm đến việc tỏ ra tử tế, hay đúng hơn là họ quá hèn nhát để gây ra nỗi đau ngắn hạn cho người khác. Một cách thực sự can đảm để ra đi là cho phép chúng ta bị ghét bỏ một thời gian bởi một người vẫn còn yêu chúng ta.

We shouldn’t imagine that they will never find anyone else like us: they may believe it now and might even sweetly tell us so. But they won’t believe it when they finally understand who we are. Real kindness means getting out – even though the holiday has been booked, the apartment paid for and the wedding arranged.

Chúng ta không nên cho rằng họ sẽ không bao giờ tìm được người nào như mình: họ có thể tin điều đó bây giờ và thậm chí có thể nói thế với chúng ta một cách tử tế. Thế nhưng họ sẽ không tin vào điều đó một khi họ hiểu được chúng ta là ai. Lòng tốt thật sự nghĩa là bỏ đi – ngay cả khi kỳ nghỉ đã đượcđặt, căn họ đã được thanh toán và lễ cưới đã được sắp xếp.

There’s nothing wrong with and nothing dangerous about deciding someone isn’t for us. There is something very wrong with ruining large chunks of someone else’s life while we squeamishly or fearfully hesitate to get out of the way.

Không có gì sai và nguy hiểm về việc quyết định người nào đó không dành cho mình. Nhưng sẽ rất sai trái nếu chúng ta hủy hoại phần lớn cuộc đời của một người trong khi chúng ta quá cậu nệ hoặc ngập ngừng sợ hãi để ra khỏi cuộc đời người khác.

Category :

Practice translating

Chuyên mục: Kiến thức

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Check Also
Close
Back to top button