Kiến thức

Động Cơ Không Đồng Bộ Ba Pha – Cấu tạo, nguyên lý – cách quấn – Điện Cơ Bắc Ninh

Động Cơ Không Đồng Bộ Ba Pha – Cấu tạo, nguyên lý – cách quấn

Động cơ không đồng bộ 3 pha là thiết bị được sử dụng rất nhiều trong công nghiệp chẳng hạn như các loại động cơ bơm nước 3 pha, motor điện, máy phát điện,…Tuy nhiên mỗi khi máy gặp sự cố việc thay thế động cơ mới khá tốn kém, nhiều người đã chọn việc quấn lại motor để tiết kiệm hơn. Việc quấn lại động cơ là chuyện rất bình thường, tuy nhiên để quấn lại động cơ sao cho đúng là cả một vấn đề, do đó hôm nay 

Điện Cơ Bắc Nin

h

 xin chia sẻ đến các bạn bài viết hướng dẫn cách quấn động cơ không đồng bộ ba pha chi tiết nhất!

Khái quát về động cơ điện không đồng bộ

Hiện nay động cơ điện không đồng bộ 3 pha được dùng rộng rãi trong các ngành công nghiệp vì cấu tạo đơn giản, giá thành rẻ, hiệu suất cao, dễ sử dụng và bảo dưỡng, độ bền cao…

  1. Rotor động cơ điện xoay chiều 3 pha thường có 2 loại chính:
  • Rotor quấn dây kiểu thông dụng, mang ký hiệu AK (từ cỡ 5 đến cỡ 9) và ký hiệu MTK, MTB chuyên dùng cho máy trục, máy phát điện…
Hình 1a: Rotor có quấn dây
  • Rotor lồng sóc thuộc dãy thống nhất thông dụng mang ký hiệu DK của Việt Nam (Điện cơ Hà Nội và Điện khí Hải Phòng sản xuất) (hình 1b).
Hình 1b: Rotor lồng sóc

Trên cơ sở loại động cơ thuộc dãy thống AO nhất người ta cải tiến chế tạo những loại động cơ chuyên dùng như:

  • Động cơ không đồng bộ có mô-men mở máy tăng cường ký hiệu AOΠ (từ cỡ 4 đến cỡ 9) dùng cho thiết bị có tải nặng lúc mở máy.
  • Động cơ AOC có hệ số trượt nâng cao để kéo các máy có tải kiểu xung không đều, hay thay đổi chiều quay.
  • Động cơ có tốc độ đều, ký hiệu AOT (từ cỡ 4 đến cỡ 7) sử dụng cho công nghiệp dệt…

Ngoài những rotor lồng sóc bình thường dòng điện khởi động rất cao (I) gấp từ 5 ~ 7 lần dòng điện định mức (Iđm), , mômen khởi động (M) chỉ từ 0,8 ~ 1,2 mômen định mức (Mđm), lại có rô to lồng sóc rãnh sâu, rô to lồng sóc kép để cải thiện đặc tính mở máy, dòng điện mở máy thấp mà mômen khởi động lại cao.

Động cơ lồng sóc kép thì I/Iđm chỉ gấp từ 3,3 đến 5,5 lần; động cơ rãnh sâu thì i/Iđm = 4 đến 5,5 lần mà mômen khởi động đạt từ 1,5 đến 2 lần mômen định mức.

Đọc nhãn gắn trên động cơ ta có thể biết được một số tính năng.

Ví dụ:

Động cơ DK 31-4 do Việt Nam sản xuất (tương đương AO) là động cơ không đồng bộ 3 pha vỏ gang (nếu vỏ nhôm thêm chữ ƛ) kiểu kín, cánh quạt thổi gió ngoài vỏ, cỡ 3 chiều dài thứ nhất, có 4 cực (1500 vòng/phút).

Với những động cơ có hai hoặc nhiều tốc độ, trên nhãn sau phần ký hiệu có viết thêm chữ số chỉ số cực cách nhau bằng gạch chéo.

Ví dụ:

AO2 – 41 – 8/4 là động cơ không đồng bộ 3 pha, cải tiến lần thứ 2, cỡ 4 có 2 tốc độ: 750 vòng/phút và 1500 vòng/phút ứng với 8 cực và 4 cực.

Ngoài những động cơ thông dụng kiểu cũ A (vỏ bảo vệ) và AO (vỏ kín thổi gió ngoài) có 7 cỡ vỏ, chiều cao tâm từ 100 ~ 335 mm, công suất từ 0,6 đến 100 kW. Người ta đã cải tiến lần thứ hai A2 và AO2 với 18 cấp công suất trọng lượng động cơ nhẹ hơn, nhỏ, thấp và dài ra (chiều cao tâm 90 ~ 280mm).

Động cơ cải tiến kiểu mới 4A cách điện cấp B và cấp F, chịu nhiệt cao, nhẹ nhàng và còn thấp hơn nữa, chiều cao tâm chỉ cso 50 ~ 250mm với 9 cỡ vỏ, số cấp công suất là 29, từ 0,12 ~ 400 kW.

Vỏ cũng có nhiều chủng loại cho phù hợp với từng yêu cầu như: động cơ kiểu hở, kiểu vỏ kín, kiểu bảo vệ, phòng nước, động cơ kiểu vỏ chống nổ chuyên dùng ở mỏ,…

Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của động cơ không đồng bộ

Bạn đang xem: Động Cơ Không Đồng Bộ Ba Pha – Cấu tạo, nguyên lý – cách quấn – Điện Cơ Bắc Ninh

Cấu tạo và nguyên lý làm việc

Quấn lại động cơ điện không đúng thì từ trường quay do các cuộn dây stato sinh ra sẽ không thành hình Sin làm cho mômen khởi động làm việc kém đi, tốn nhiều điện năng mà động cơ lại nóng hơn, hiệu suất làm việc của nó giảm xuống. Vậy cần phân biệt thế nào là động cơ không đồng bộ rô to lồng sóc để quấn lại cho đúng.

Hình 2: Sơ đồ đấu dây động cơ 3 pha

Động cơ không đồng bộ gồm có hai phần chính:

  • Phần tĩnh (stato) hình trụ rỗng, bằng thép kỹ thuật điện ghép lại, phía trong có dập rãnh để đặt cuộn dây quấn ở stato (hình 2).
  • Phần quay (rô to) cũng bằng thép kỹ thuật điện có dập rãnh đúc nhôm tạo thành lồng sóc, rô to được lắp trục và vòng bi đặt trên hai nắp để quay trơn trong stato.

Cấp điện áp 3 pha vào 3 cuộn dây ở stato, dòng điện trong dây quấn sẽ tạo thành từ trường quay khép mạch qua lõi thép stato, rô to.

Tốc độ quay của từ trường (n1) tỷ lệ thuận với tần số (f) của nguồn điện, tỷ lệ nghịch với số đôi cực (p) của động cơ theo công thức:

n1 = 60f / p     (Tham khảo thêm ở bài

tính vòng quay động cơ

nhé)

Từ trường quay quét thanh dẫn ở lồng sóc nhôm (kín mạch) sinh ra dòng điện cảm ứng ở thanh dẫn, tác dụng trở lại với từ trường quay tạo ra mômen làm quay roto. Tốc độ rô to n luôn luôn thấp hơn tốc độ từ trường quay n1, vì thế được gọi là động cơ không đồng bộ.

Để biểu thị mức độ không đồng bộ giữa tốc độ và quay của rô to n so với tốc độ quay của từ trường quay n1 ta dùng khái niệm hệ số trượt S% tính theo phần trăm:

S% = [ (n1 – n) / n1 ] 100%

Độ trượt phụ thuộc vào chế độ làm việc của động cơ, tải càng nặng càng trượt nhiều, tải nhẹ trượt ít nhưng kể cả lúc không tải cũng khác trị số 0.

Khi tải hết công suất tốc độ quay của rô to giảm xuống tới tốc độ định mức ghi trên nhãn của động cơ. Thường giảm từ 5 ~ 6% ở các động cơ 3 pha cỡ nhỏ và giảm 1,5 ~ 2% ở các động cơ lớn. Đối với động cơ điện không đồng bộ có hệ số trượt nâng cao (AOC) thì S có thể đạt đến 10%.

Đấu dây bên ngoài và đổi chiều quay của động cơ 3 pha

Stato của động cơ không đồng bộ 3 pha cấu tạo gồm nhiều bin nhỏ nối thành 3 cuộn dây đặt lệch nhau 1200 (điện) trong không gian, có 6 đầu nối dây nối ra ngoài gồm 3 dây đầu vào A -> B -> C và 3 đầu dây ra X – Y – Z.

Tùy theo điện áp nguồn sử dụng cho động cơ mà stato được nối hình sao hay nối hình tam giác:

  • Nối hình sao (Y) khi điện áp nguồn bằng điện áp cao nhất ghi trên nhãn động cơ: 3 dây đầu A + B + C được chập lại với nhau, còn 3 dây cuối X, Y, Z được nối ra 3 dây lửa của nguồn (3-2a).
  • Nối tam giác (Δ) khi điện áp nguồn bằng điện áp thấp nhất ghi trên nhãn động cơ: đầu của cuộn dây này nối với cuối của cuộn dây kia từng đôi một (A + Z; B + X; C + Y) thành 3 mối dây để nối ra 3 dây lửa của nguồn (3-2b).

Ví dụ:

Một động cơ trên nhãn ghi 220/380V thì khi sử dụng vào lưới điện 3 pha 380V phải đấu hình sao (Y), trường hợp này nếu đấu thành tam giác (Δ) thì động cơ sẽ bị cháy vì điện áp mỗi pha stato vượt định mức căn bậc hai của 3 lần.

Muốn đổi chiều quay của động cơ điện xoay chiều 3 pha chỉ cần đảo chéo hai trong ba dây từ lưới điện vào động cơ là được.

Vẽ sơ đồ quấn dây stato động cơ 3 pha

1. Các kiểu quấn thông dụng ở stato động cơ 3 pha và cách lấy dấu để vẽ sơ đồ

Bất cứ stato nào trước khi tháo các cuộn dây đã bị cháy ra để quấn mới, phải lấy dấu để vẽ sơ đồ đấu dây. Tùy theo điều kiện cụ thể và kinh nghiệm của từng người mà cách lấy dấu có khác nhau.

Bước 1:

Ghi lại nhãn hiệu gắn trên động cơ cần quấn lại, trong đó những số liệu: điện áp sử dụng, hộp nối dây nối hình sao hay hình tam giác, tốc độ quay định mức là bao nhiêu. Từ đó sẽ biết được số cực 2p của dây quấn stato (với f = 50 Hz).

  • Nếu n1 ~ 3000 vòng/phút thì 2p = 2
  • Nếu n1 ~ 1500 vòng/phút thì 2p = 4
  • Nếu n1 ~ 1000 vòng/phút thì 2p = 6
  • Nếu n1 ~ 750 vòng/phút thì 2p = 8
  • Nếu n1 ~ 600 vòng/phút thì 2p = 10,…

Đếm tổng số rãnh z1 của stato, thường số rãnh z của động cơ 3 pha là: 18, 24, 27, 30, 36, 42, 48, 54, 60, 72.

Cần quan sát xem stato quấn kiểu gì? Kiểu đồng tâm (hình 3-14), hiểu đồng khuôn (hình 3-22) hay kiểu quấn 2 lớp (hình 3-23).

Dây quấn bọc sợi hay dây men, cỡ dây bao nhiêu? Có dấu song song không? Muốn vẽ sơ đồ còn phải biết:

  • Bước quấn y tức là quãng hạ dây bin gồm mấy rãnh.
  • Những bin hoặc tổ đấu dây nối với nhau cách mấy rãnh gọi là bước đấu dây yd.
  • Các đầu dây vào (A – B – C hoặc U – V – W) và các đầu dây ra (X – Y – Z) ở những rãnh nào?

Bước 2:

Dùng các ký hiệu và ghi số thứ tự các rãnh để vẽ sơ đồ số:

  • Bước quấn dây y ký hiệu bằng dấu X
  • Bước đấu dây yđ ký hiệu bằng dấu +

Nếu bộ dây quấn kiểu 2 lớp thì:

  • Đầu dây ở lớp trên, ký hiệu số có gạch ở trên
  • Đầu dây ở lớp dưới, ký hiệu số có gạch ở dưới (28)
  • Lấy dấy từng pha:

Từ đầu vào pha A, đến đầu ra cuối là X.

Từ đầu vào pha B, đến đầu ra cuối là Y.

Từ đầu vào pha C, đến đầu ra cuối là Z.

Quan sát kỹ từng đầu dây, từng mối nối, nếu cần thì dùng đèn thử hoặc đồng hồ ôm kế để đo thông mạch, ghi tất cả vào sổ tay (ở hiện trường) thành sơ đồ số.

Bước 3 :

Dùng sơ đồ số để ẽ lại bằng sơ đồ tròn hoặc sơ đồ khai triển (trải rộng) sẽ được một sơ đồ cấu tạo của các cuộn dây stato.

Nếu gặp phải stato dây quấn quá nhỏ, cậy lên để đo đạc rất dễ bị đứt, những bin bị chạm, nổ đứt các mối đấu dây, những động cơ bị mất hết cuộn dây thì phải tự chọn lấy kiểu quấn cho phù hợp, tùy yêu cầu thực tế mà chọn một trong 3 kiểu quấn phổ biến sau đây :

  • Kiểu quấn đồng tâm có đặc điểm là các bin dây có hình dạng to nhỏ khác nhau (mỗi bin hơn kém nhau hai rãnh) và được quấn liền thành từng tổ thường gọi là quấn dính đôi, dính ba,… Kiểu đồng tâm dễ quấn, dễ lồng và dễ đấu dây, cuộn dây khi hỏng dễ sửa chữa, lót cách điện đơn giản nhưng có nhược điểm là phải làm nhiều khuôn, tốn nhiều dây quấn. Các cuộn dây của 3 pha có loại không cùng nằm trên một mặt phẳng nên tổng trở của từng pha thường không bằng nhau, khi cần đầu song song (a >=2) không thuận lợi và không tốt.

Khi hạ dây kiểu quấn đồng tâm một mặt phẳng thường có một số bin chờ, chỉ hạ 1/2 dưới, hạ liền cà một tổ, để cách một số rãnh (bằng số bin của một tổ) rồi hạ tiếp tổ khác, tuần tự cho đến hết các bin, cuối cùng mới hạ các nửa trên của bin chờ.

  • Kiểu quấn đồng khuôn  thì dây quấn rất đối xứng, chỉ cần làm một khuôn hình thang cho cả stato, nhưng khi hạ dây xuống rãnh cũng phải có một số bin “để chờ” chiếm phạm vi một bước cực. Quá trình hạ dây cứ cách một rãnh hạ một bin cho đến hết vòng trong stato. Các cạnh trên của bin chờ gây khó khăn cho việc lồng dây, khi cần sửa chữa lại phải nâng các cạnh trên này rất trở ngại, dễ hỏng dây. Tuy có nhược điểm là hạ dây, đấu dây, sửa chữa khó hơn kiểu quấn đồng tâm nhưng lại tiết kiệm được dây điện từ và có thể bố trí bước ngắn.
  • Kiểu quấn hai lớp thường gặp ở những động cơ Nhật, những động cơ điện hạ thế trên 10kW, khác với hai kiểu trên là tổng số bin bằng 1/2 số rãnh của stato, riêng kiểu quấn hai lớp có đặc điểm là tổng số bin bằng số rãnh z1 của stato. Kiểu quấn này cũng chỉ cần một cỡ khuôn nhưng hạ dây khó khăn, vì cũng phải có một số bin chờ mà trong rãnh lại đầy (hệ số lấp đầy không được cao) do phải lót cách điện giữa hai lớp dây của hai bin khác nhau trong cùng một rãnh.

Quá trình hạ từng bin (không cách) liên tiếp cho đến hết bộ dây. Máy điện xoay chiều phổ thông thường dùng kiểu quấn hai lớp vì dễ bố trí cuộn dây bước ngắn (có thể rút ngắn một vài rãnh), dễ đấu song song khi cần thiết. Thường chọn bước ngắn (y = 0,8) để cải thiện dạng đường cong sức điện động và từ trường do dây quấn sinh ra gần hình sin nhất, động cơ chạy êm tốt.

Chỉ chọn bước ngắn nhiều nhất là 2/3, nếu lấy bước quấn dây ngắn hơn nữa sẽ làm giảm hệ số quấn dây.

Kiểu quấn hai lớp tiết kiệm dây (khi chế tạo hàng loạt có thể cơ giới hóa), khi tính toán chọn số vòng của một pha rất thuận lợi khi cần điều chỉnh tỷ lệ giữa phụ tải điện và phụ tải từ, ngoài ra có khả năng bố trí sơ đồ dễ hơn khi q là phân số.

Ví dụ 1 :

Lấy mẫu để vẽ sơ đồ điện động cơ 3 pha 220V/380V, tốc độ 1450 vòng/phút, 2p = 4 , z = 24. Quan sát rồi ghi số thứ tự (dùng phấn viết vào các rãnh từ 1 – > 24) 6 đầu dây nối ra ngoài ở những rãnh nào. Hình 3 – 14 minh họa sơ đồ triển khai dây quấn đồng tâm.

Ta có :

  • Pha A : 1 x 8 + 2 x 7 + 13 x 20 + 14 x 19 -> cuối X
  • Pha B : 5 x 12 + 6 x 11 + 17 x 24 + 18 x 29 -> cuối Y
  • Pha C : 9 x 16 + 10 x 15 + 21 x 4 + 22 x 3 -> cuối Z

Đây chính là sơ đồ số ghi nhanh vào sổ tay.

Giải thích cách lấy mẫu : Lần theo dòng điện vào pha A đi từ rãnh số 1 sang rãnh số 8, vắt chéo (nối) sang rãnh số 2 để sang rãnh số 7, nối với rãnh số 13 để sang rãnh số 20, vắt chéo (nối) sang rãnh số 14 rồi đi ra ở rãnh số 19 là X. Điện vào pha B (ở rãnh số 5) và pha C (ở rãnh ôs 9) cũng tương tự như trên. Vậy mỗi pha sẽ chiếm 8 rãnh. Từ các số liệu này ta sẽ vẽ được sơ đồ trải

2. Các sơ đồ quấn dây động cơ điện 3 pha có z = 18 đến z = 54

Ví dụ 2 :

Lấy mẫu để vẽ sơ đồ điện động cơ 3 pha, 380V tốc độ đồng bộ ~ 1500 vòng/phút (2p = 4).

Z1 = 36 rãnh, quấn đồng tâm.

Ghi số thứ tự từ 1 đến 36 vào các rãnh ở stato, lấy các đầu vào : pha A ở rãnh số 7, pha B ở rãnh số 13 và pha C ở rãnh số 19 ta có :

  • Pha A : 7 x 18 + 8 x 17 + 9 x 16 + 25 x 36 + 26 x 35 + 27 x 33 -> cuối X.
  • Pha B : 13 x 24 + 14 x 23 + 15 x 22 + 31 x 6 + 32 x 5 + 33 x 4 -> cuối Y.
  • Pha C : 19 x 30 + 20 x 29 + 21 x 28 + 1 x 12 + 2 x 11 + 3 x 10 -> cuối Z.

Dùng sơ đồ số đã lấy mẫu để vẽ sơ đồ tròn ở hình 3-27 hoặc vẽ sơ đồ khai triển ở hình 3-28.

Ba đầu cuối X, Y, Z nối lại thành hình sao trong bộ dây.

Ví dụ 3 :

Lấy mẫu để vẽ sơ đồ điện động cơ điện 3 pha 380V, tốc độ đồng bộ 3000 vòng/phút (2p = 2)

Z1 = 24 rãnh, quấn đồng khuôn.

Ghi số thứ tự từ 1 đến 24 vào các rãnh ở stato, lấy các đầu vào : pha A ở rãnh số 1, pha B ở rãnh số 9 và pha C ở rãnh số 17, ta có :

  • Pha A : 1 x 11 + 2 x 12 + 24 x 14 + 23 x 13 -> cuối X.
  • Pha B : 9 x 19 + 10 x 20 + 8 x 22 + 7 x 21 -> cuối Y.
  • Pha C : 17 x 3 + 18 x 4 + 16 x 6 + 15 x 5 -> cuối Z.

Dùng sơ đồ số đã lấy mẫu để vẽ sơ đồ khai triển ở hình 3-11. Các dây cuối đấu hình sao.

Ví dụ 4 :

Lấy mẫu để vẽ sơ đồ trải động cơ không đồng bộ 3 pha, tốc độ đồng bộ 1500 vòng/phút (2p = 4).

Z = 36 rãnh, quấn 2 lớp.

Những động cơ quấn 2 lớp thì lấy mẫu khó hơn những kiểu quấn ở trên vì mỗi rãnh có đến 2 đầu dây ra ngoài (1 đầu dây nằm ở lớp trên còn 1 đầu dây lại nằm ở lớp dưới). Cần quan sát 6 đầu dây nối ra ngoài (kể cả các đầu nối) nằm ở những rãnh nào, lớp trên hay lớp dưới. Mỗi pha từ A đến X gồm mấy nhóm (các nhóm thường lót bìa cách điện để tách nhau), mỗi nhóm quấn dính nhau mấy bin ? ta được :

  • Pha A : 1 x 8 + 2 x 9 + 3 x 10 + 19 x 12 + 18 x 11 + 17 x 10 + 19 x 26 + 20 x 27 + 21 x 28 + 1 x 30 + 36 x 29 + 35 x 28 -> X.
  • Pha B : 13 x 20 + 14 x 21 + 15 x 22 + 31 x 24 + 30 x 23 + 29 x 22 + 31 x 2 + 32 x 3 + 33 x 4 + 13 x 6 + 12 x 5 + 11 x 4 -> Y.
  • Pha C : 25 x 32 + 26 x 33 + 27 x 34 + 7 x 36 + 6 x 35 + 5 x 34 + 7 x 14 + 8 x 15 + 9 x 16 + 25 x 18 + 24 x 17 + 23 x 16 -> Z.

Dùng sơ đồ số đã lấy mẫu để vẽ sơ đồ khai triển như hình 3 – 23.

Nhận xét : các đầu dây vào A, B, C nằm ở các rãnh phía trên (1, 13, 25) và các đầu dây ra X, Y, Z cũng nằm ở các rãnh phía trên (28, 4, 16).

Những động cơ đã bị tháo hết dây cũ, mất mẫu thì phải tính lại để vẽ sơ đồ.

3. Tính toán đơn giản để vẽ sơ đồ dây quấn có q là số nguyên

(Chỉ áp dụng cho động cơ mà số rãnh q của 1 pha dưới 1 cực là số nguyên)

Muốn vẽ sơ đồ phải dùng một số công thức sau :

a. Tính số rãnh ở mỗi cực q của stato: vẫn theo công thức 3-2 (z2 được thay bằng z1).

b. Tính bước quấn y: tức là khoảng cách tính bằng số rãnh giữa hai cạnh của một bin (từ rãnh số 1 đến rãnh số mấy để hạ bin), ở đây dùng công thức theo kinh nghiệm và lấy q là số nguyên (phàn lớn các động cơ chọn số nguyên để triệt tiêu các sóng bậc cao, cải thiện đặc tính làm việc, chạy êm…)

– Nếu động cơ quấn kiểu đồng tâm, cuộn dây nhỏ nhất được tính như sau :

y = 2q + 2                (3-5)

  • Động cơ quấn kiểu đồng khuôn nhưng số rãnh q chẵn thì :

y = 3q           (3-6a)

  • Động cơ quấn kiểu đồng khuôn mà số rãnh q lẻ phải dùng công thức :

y = 3q + 1      (3-6b)

  • Động cơ quấn hai lớp bước đủ :

y = 3q + 1       (3-7)

  • Động cơ quấn hai lớp bước ngắn :

y = 0,8 (3q + 1)      (3-8)

Những máy có một đôi cực, đôi khi còn dùng bước ngắn hơn nữa (để tiết kiệm dây, dây quấn không chạm nắp vì đầu bin dài) và tính theo :

y = 1,5q + 1 đến 2q + 1

c. Đấu dây các nhóm

Các kiểu quấn đồng tâm quấn hai lớp thường quấn nhiều bin nối tiếp nhau (quấn dính đôi, dính ba,…) q lần.

Sau khi đã lồng hoàn chỉnh vào stato, khi đấu dây phải biết các nhóm bin này đấu với nhau thế nào để các pha không bị trái cực nhau.

Khi vẽ sơ đồ cũng như lúc làm thực tế phải đấu theo từng pha một thì mới dễ dàng, không bị nhầm lẫn. Các đấu dây của 3 pha giống hệt nhau, như vậy ta chỉ cần xác định các mối đấu chính của một pha là làm được.

Với dây quấn hai lớp thì khoảng cách đấu dây của nhóm là cạnh ngoài với cạnh ngoài, cạnh trong với cạnh trong của từng nhóm (ví dụ 3 phần 2 mục 3-6).

Khoảng cách giữa các rãnh để đấu dây kiểu đồng tâm và kiểu đồng khuôn (q chẵn) là :

yd = 3q + 1              (3-9a)

Riêng kiểu quấn đồng khuôn (q >= 3) mà q lẻ thì :

yd = 3q                    (3-9b)

d. Tính rãnh cho các dây đầu vào

Tính được bước quấn y, bước đấu dây yd, còn phải tính rãnh cho điện vào ở 3 pha thật đúng thì mới vẽ xong được sơ đồ đấu dây (chỉ vô ý nhầm một rãnh cũng gây tai họa làm động cơ gầm lên và cháy sau vài phút).

Rãnh cho điện vào thường chia đều ra 3 điểm của chu vi stato (giống như roto) hoặc có thể lấy theo công thức sau :

A -> B -> C = 2q + 1         (3-10)

Ví dụ 5 : Vẽ sơ đồ quấn dây cho động cơ 3 pha (m = 3). Tốc độ n1 = 1500 vòng/phút. Quấn kiểu đồng tâm.

Ta có : z = 24     2p = 4        (hình 3-14)

  • Số rãnh ở mỗi cực của một pha là (công thức 3-2) :

q = 24 / (4 x 3) = 2 (cũng là 2 bin quấn nối tiếp)

  • Bước quấn y (bước hạ của bin nhỏ nhất) theo công thức 3-5 :

y = 2 x 2 + 2 = 6 rãnh

  • Khoảng cách yd giữa các rãnh để đấu dây (công thức 3-9a) :

yd = 3 x 2 + 1 = 7 rãnh

  • Rãnh cho điện vào sẽ cách nhau ( công thức 3-10) :

A -> B -> C = 2 x 2 + 1 = 5 rãnh.

Tức là từ rãnh lấy điện vào của pha thứ nhất A, chọn là số 1 thì đến rãnh số 5 sẽ là pha thứ hai B và từ rãnh số 5 đến C cũng cách nhau 5 rãnh nữa (tức là rãnh số 9 ở hình 3-14).

Ví dụ 6 : Vẽ sơ đồ quấn dây cho động cơ 3 pha (m = 3)

Tốc độ n1 = 1500 vòng/phút. Quấn kiểu đồng khuôn.

Ta có z = 24 ; 2p = 4    (hình 3-13)

  • Số rãnh ở mỗi cực của 1 pha là (công thức 3-2)

q = 24 / (4 x 3) = 2 (q chẵn)

  • Bước quấn theo công thức (q chẵn) 3-6a là :

y = 3q = 3 x 3 = 9 rãnh

  • Khoảng cách yd giữa các rãnh đấu dây là (công thức 3-9a):

yd = 3q + 1 = (3 x 2) + 1 = 7 rãnh

  • Rãnh cho điện vào (công thức 3- 10) cách nhau:

B -> A -> C = 2q + 1 = (2 x 2) + 1 = 5 rãnh.

Từ các số liệu này sẽ vẽ được sơ đồ tròn hoặc sơ đồ khai triển.

Như vậy ta đã biết được các kiểu quấn dây và cách lên sơ đồ quấn động cơ không đồng bộ 3 pha như thế nào rồi. Chúc các bạn thành công với bài hướng dẫn trên đây.

Chuyên mục: Kiến thức

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Check Also
Close
Back to top button