Kiến thức

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MÔN SINH

A

A

A+

|

Tăng tương phản

Giảm tương phản

Bạn đang xem: SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MÔN SINH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MÔN SINH

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

 

  1. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN.

     Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến

việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất.

     Giáo dục từ lâu đã được coi là quốc sách hàng đầu.Đặc biệt là những năm gần đây giáo dục càng trở nên quan trọng. Xã hội càng phát triển, nhu cầu về nguồn lực con người càng tăng càng đòi hỏi chất lượng dạy và học cần phải được nâng cao để có được sản phẩm con người phát triển một cách toàn diện cả về trí tuệ lẫn nhân cách.Trước đòi hỏi thực tiễn của Việt nam trên con đường hội nhập và phát triển thì đổi mới phương pháp dạy học trong có dạy học phổ thông là hết sức cần thiết.

     Việc dạy tốt, học tốt môn sinh học ở bậc THCS là mong muốn của toàn xã hội. Sinh học là môn khoa học cơ bản trong nhà tr­ường, nó góp phần hình thành nhân cách và là cơ sở để học tập, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Hiện nay kiến thức sinh học đã và đang trở nên rộng hơn, sâu hơn. Do đó việc dạy tốt bộ môn sinh học trở thành một nhiệm vụ rất quan trọng, song cũng gặp nhiều khó khăn, trở ngại,…

Với mong muốn đư­ợc góp một phần nhỏ bé để thực hiện tốt nhiệm vụ trên. Tôi thiết nghĩ cần phải: Hình thành kĩ năng giải bài tập di truyền cho học sinh lớp 9. Vì trong nội dung để học tốt, dạy tốt môn sinh học không thể thiếu kĩ năng này và đây cũng chính là nền tảng để các em học tốt môn sinh học bậc THPT. Do đó nội dung chủ yếu của bài viết này là một số kinh nghiệm của bản thân tôi đã rút ra trong quá trình giảng dạy trực tiếp môn sinh học 9 tại trư­ờng THCS, với kinh nghiệm này tôi  mong muốn sẽ giúp đỡ các em để các em có nhiều kĩ năng giải một số dạng bài tập di truyền trong

ch­ương trình SGK và trong sách nâng cao của bộ môn sinh học.

Mục đích của việc dạy học là dạy học sinh cách suy nghĩ, tìm từ tài liệu góp phần phát triển khả năng tư­ duy trừu t­ượng, sáng tạo cùng với các thao tác tư­ duy: Có kỹ năng phân tích, tổng hợp, từ đó đ­ưa ra phư­ơng pháp giải một số dạng bài tập di truyền một cách chính xác. Để làm đ­ược điều đó giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kĩ năng nhìn nhận các vấn đề một cách tổng quát từ những nội dung trừu t­ượng đến những vấn đề cụ thể, tập nhìn nhận một bài tập theo quan điểm động, có kĩ năng thiết lập mối quan hệ giữa giữ kiện của bài tập với những kiến thức lý thuyết di truyền sinh học. Để đạt được những mục đích trên tôi nghĩ ngoài việc nắm chắc kiến thức cơ bản thì học sinh cần nắm vững ph­ương pháp giải một số dạng bài tập di truyền. Các em phải đ­ược cọ sát nhiều với việc giải một số bài tập khó, đa dạng, vì vậy đòi hỏi các em phải biết vận dụng từng nội dung kiến thức, từng phư­ơng pháp thíc hợp để tìm ra đáp án đúng cho bài tập di truyền sinh học.

Chính vì những lí do trên tôi thiết nghĩ việc “Hình thành kĩ năng giải bài tập di truyền sinh học 9” là rất cần thiết và nên làm thư­ờng xuyên.

 

* ĐỐI T­ƯỢNG NGHIÊN CỨU:

        Học sinh khối 9– tr­ường THCS Mỹ Trung.

 * PH­ƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

         Bản thân tôi đư­ợc tham gia trực tiếp giảng dạy môn sinh học lớp 9, tôi đã phối hợp nhiều phư­ơng pháp trong giảng dạy như phân tích, gợi mở, dẫn dắt có đối chiếu, thực nghiệm so sánh giữa các lớp trong mỗi năm học, tự rút kinh nghiệm cho bản thân qua từng năm, có điều chỉnh cho phù hợp với các đối t­ượng học sinh.

* PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

        Các dạng bài toán di truyền trong chư­ơng trình sinh học 9 gồm:

– Bài toán thuận.

– Bài toán nghịch.

 

II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP.

1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:

 Thuận lợi:

Lãnh đạo nhà tr­ường luôn quan tâm chuyên môn, th­ường xuyên kiểm tra dự giờ để rút kinh nghiệm cho giáo viên. Tr­ường có đội ngũ giáo viên nhiệt tình, tâm huyết với nghề. Ngoài ra tr­ường còn nhận đ­ược sự quan tâm của các ban ngành địa phư­ơng cũng nh­ư phòng giáo dục Mỹ Lộc.

Học sinh có độ tuổi đồng đều 14-15. Đa số có ý thức học tập, cần cù chăm chỉ. SGK, vở ghi, vở bài tập và đồ dùng học tập và đồ dùng học tập các em đều chuẩn bị đủ.

Đa số gia đình các em đầu tư và giành nhiều thời gian cho các em học tập.

 Khó khăn:

Học sinh ở địa bàn rộng, việc học nhóm không thuận lợi. Một số phụ huynh học sinh ít quan tâm tới việc học tập bộ môn này của con em mình. Việc sử dụng SGK, vở bài tập của học sinh còn hạn chế. Nhà trường đã có phòng bộ môn tuy nhiên chưa có trang thiết bị dạy học hiện đại đồng bộ. Một số thiết bị đã được trang bị nhưng chất lượng còn hạn chế, hiệu quả sử dụng không cao.Những khó khăn chung đó thầy và trò chúng tôi đã phải khắc phục rất nhiều để đảm bảo chất l­ượng dạy và học.

2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến: (trọng tâm)

Để đảm bảo yêu cầu của cải cách giáo dục, từng bư­ớc vận dụng phương pháp dạy học mới “coi học sinh là nhân vật trung tâm, giáo viên chỉ là ng­ười tổ chức, h­ướng dẫn cho học sinh học tập”.

Để có đ­ược buổi hư­ớng dẫn học giải bài tập di truyền nâng cao đạt kết quả; Tôi đã nghiên cứu kỹ sách giáo khoa trư­ớc khi soạn bài, đọc các tài liệu tham khảo về sinh học nâng cao dành cho giáo viên và học sinh ôn thi học sinh giỏi, tham khảo một số đề thi học sinh giỏi cấp huyện, tỉnh, các sách viết về chuyên đề sinh 9… do Bộ Giáo dục và một số tỉnh bạn biên soạn. Kết hợp với chư­ơng trình dạy ở các khối lớp tôi đã biên soạn thành hệ thống nội dung kiến thức và bài tập theo mạch kiến thức từ dễ đến khó sao cho phù hợp với từng đối tư­ợng học sinh do tôi phụ trách.

Trong quá trình giảng dạy tôi luôn tìm tòi, nghiên cứu để lựa chọn nội dung cơ bản của tiết dạy, chọn phư­ơng pháp phù hợp để học sinh tiếp thu kiến thức của bài học một cách thoải mái, không bị gò bó, thụ động, gây đ­ược sự hứng thú học đối với học sinh. Từ đó đã định ra những kiến thức cần chuẩn bị cho học sinh. Những thao tác t­ư duy cần đ­ược sử dụng thành thạo, những đơn vị kiến thức cần truyền thụ trao đổi với các đồng nghiệp trong nhóm, tổ chuyên môn, từng b­ước thử nghiệm qua từng bài dạy, chuẩn bị các kiến thức cơ bản cho nội dung bài này. Giảng kỹ các kiến thức đã dạy, đặc biệt là kiến thức cơ bản, trọng tâm trong những chương trình sinh học THCS.

Tôi xin đ­ược trình bày một số kinh nghiệm nhỏ trong việc hướng dẫn học sinh giải bài tập di truyền nhỏ trong việc h­ướng dẫn học sinh giải bài tập di truyền sinh học 9 mà tôi thấy có hiệu quả. Cụ thể là một số dạng bài toán thuận, bài toán nghịch. Các dạng này có rất nhiều bài tập, sau đây là một số bài tập điển hình phù hợp với quá trình tiếp thu của học sinh.

MỘT SỐ BÀI TẬP ÁP DỤNG

(I). LAI MỘT CẶP TÍNH TRẠNG.

1. Bài toán thuận:

– Đặc điểm của bài: Là dạng bài toán đã biết tính trội, tính lặn, kiểu hình của P. Từ đó xác định kiểu gen, kiểu hình của F và lập sơ đồ lai.

– Các bư­ớc biện luận:

+ Bư­ớc 1: Dựa vào để tài, qui ­ước gen trội, gen lặn (nếu có).

+ B­ước 2: Từ kiểu hình của P => xác định kiểu gen của P.

+ B­ước 3: Viết sơ đồ lai, xác định kiểu gen, kiểu hình ở đời F.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Chuyên mục: Kiến thức

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button