Kiến thức

U tuyến giáp là gì và các phương pháp điều trị U tuyến giáp

Bạn đang xem: U tuyến giáp là gì và các phương pháp điều trị U tuyến giáp

U tuyến giáp là gì và các phương pháp điều trị U tuyến giáp

26-08-2010

A- U TUYẾN GIÁP LÀ GÌ?

Tuyến giáp nằm ở trước cổ, dưới đáy của họng. U tuyến giáp có thể là những khối tân sinh lành tính (không ung thư) hoặc ác tính (ung thư). 

Ví dụ điển hình của u lành tính là các u tuyến (adenomas), sản xuất ra hocmon tuyến giáp. U ác tính hiếm gặp hơn và thường gặp ở nữ nhiều hơn nam. Theo Hiệp Hội Ung Thư Mỹ (American Cancer Society=ACS), khoảng 22.000 trường hợp ung thư tuyến giáp được chẩn đoán ở Mỹ mỗi năm.

B- ADENOMA TUYẾN GIÁP

Adenoma tuyến giáp phát triển từ lớp tế bào lót mặt trong tuyến giáp. Adenoma tiết ra hocmon tuyến giáp. Nếu adenoma bài tiết đủ hocmon tuyến giáp, nó có thể gây ra cường giáp. Adenoma tuyến giáp cần được điều trị nếu gây hậu quả cường giáp. Điều trị bao gồm cắt bỏ một phần tuyến giáp (loại bỏ nhân giáp hoạt động quá mức).

C- UNG THƯ TUYẾN GIÁP

Ung thư tuyến giáp thường gặp ở những bệnh nhân đã từng được xạ trị ở vùng đầu cổ hoặc ngực. Tuy nhiên, đa số ung thư tuyến giáp có thể điều trị khỏi bằng các cách thức phù hợp. Ung thư tuyến giáp thường xuất hiện dưới dạng các nhân (hạt) nhỏ (nodules) bên trong tuyến giáp.

Những dấu hiệu giúp cảnh báo nhân giáp có khả năng là ung thư gồm:

– Hiện diện của một nhân đơn độc thay vì nhiều nhân

– Scan tuyến giáp (xạ hình tuyến giáp) cho thấy nhân không hoạt động (nhân lạnh)

– Nhân đặc thay vì có chứa dịch (nang)

– Nhân cứng/ Nhân phát triển nhanh/ Nhân dính vào các cấu trúc lân cận

– Tiền căn gia đình có ung thư tuyến giáp

– Liệt dây thanh (gây khàn tiếng)

D- Sự KHÁC BIỆT GIỮA CÁC TÝP UNG THƯ TUYẾN GIÁP

Viện Ung Thư Quốc Gia Mỹ (NCI) mô tả các týp chủ yếu của ung thư tuyến giáp như sau:

1. Ung thư tuyến giáp thể nhú hoặc thể nang: 2 týp ung thư tuyến giáp này chiếm 80 đến 90 % tất cả   các loại ung thư tuyến giáp. Ung thư tuyến giáp thể nhú gặp thường hơn. Cả hai týp ung thư  đều khởi phát từ các tế bào nang của tuyến giáp và có khuynh hướng phát triển chậm.

2. Ung thư tuyến giáp thể nang: Týp ung thư tuyến giáp này thường gặp ở người lớn tuổi và chiếm khoảng 15 % các trường hợp ung thư tuyến giáp. Typ này xâm lấn hơn và có khuynh hướng lan toả theo dòng máu để đến những bộ phận khác của cơ thể.

3. Ung thư tuyến giáp thể tuỷ: Typ này chiếm từ 5 đến 10 % tất cả các trường hợp ung thư tuyến giáp. Ung thư tuyến giáp thể tuỷ là loại ung thư tuyến giáp duy nhất phát sinh từ các tế bào C. Týp ung thư tuyến giáp này được kiểm soát dễ dàng nếu phát hiện và điều trị sớm trước khi di căn đến các bộ phận khác. Có 2 typ ung thư tuyến giáp thể tuỷ: ung thư tuyến giáp thể tuỷ ngẫu nhiên và ung thư tuyến giáp thể tuỷ gia đình (FMTC). Do ung thư tuyến giáp thể tuỷ gia đình có khuynh hướng xảy ra thường xuyên hơn trong một gia đình, nên chú ý thực hiện các xét nghiệm tầm soát bất thường về gen trong tế bào máu.

4. Ung thư tuyến giáp không biệt hoá (anaplastic): Typ ung thư hiếm gặp này chỉ chiếm từ 1 đến 2 % của tất cả các trường hợp ung thư tuyến giáp. Ung thư tuyến giáp không biệt hoá xuất phát từ những tế bào nang, có khuynh hướng phát triển và di căn rất nhanh.

E- TRIỆU CHỨNG CỦA UNG THƯ TUYẾN GIÁP?

Giai đoạn sớm của ung thư tuyến giáp có thể không có triệu chứng. Với sự tăng trưởng của khối u, dấu hiệu đầu tiên là kiểm tra thấy có một u cục không đau hoặc phì đại hạch ở vùng cổ. Các triệu chứng dưới đây thường gặp ở ung thư tuyến giáp (UTTG). Tuy nhiên, triệu chứng có thể thay đổi tuỳ theo từng bệnh nhân:

– Khan tiếng hoặc tắt tiếng khi khối u chèn ép các thần kinh đến thanh quản (thần kinh quặt ngược)

– Nuốt khó do ung thư chèn ép lên vùng hầu họng

Triệu chứng của UTTG có thể giống với biểu hiện của các bệnh lý khác. Chẩn đoán chính xác UTTG phải do bác sĩ chuyên khoa thực hiện.

F- CHẨN ĐOÁN UNG THƯ TUYẾN GIÁP

Ngoài bệnh sử và khám lâm sàng đầy đủ, các phương tiện chẩn đoán UTTG còn bao gồm:

1. Xét Nghiệm Máu: Để đánh giá lượng hocmon TSH  (thyroid-stimulating hormone=TSH), calcium, calcitonin (hocmon sản xuất bởi các tế bào C bình thường của tuyến giáp), và các yếu tố khác ở trong máu.

2. Scan tuyến giáp (xạ hình tuyến giáp): scan phóng xạ để quan sát tuyến giáp sau khi cho bệnh nhân uống hoặc tiêm tĩnh mạch một lượng nhỏ chất phóng xạ có chứa iod hoặc technetium. Trong một giai đoạn ngắn, các chất phóng xạ sẽ phát ra tia xạ. Một camera đặc biệt, có tên là camera gamma, được dùng để xác định lượng phóng xạ đã được các nhân giáp hấp thu. Nhân lạnh là các nhân hấp thu ít chất phóng xạ hơn mô tuyến giáp chung quanh. Ngược lại, nhân nóng là các nhân hấp thu chất phóng xạ nhiều hơn

3. Siêu Âm: Dùng sóng âm thanh cao tần (high-frequency sound waves) và máy vi tính để tái tạo  hình ảnh của các mạch máu, các mô, và các cơ quan. Siêu âm được dùng để quan sát các nội tạng khi chúng đang hoạt động, và để đánh giá lưu lượng máu qua các mạch máu khác nhau. Các dấu hiệu trên siêu âm của một nhân giáp nghi ngờ là:

– Tăng sinh mạch máu ở trung tâm

– Nhân giáp phản âm kém

– Bờ không đều

– Vôi hoá nhỏ bên trong

4. Sinh Thiết: Lấy mẫu mô (chọc hút bằng kim nhỏ hoặc lấy mẫu mô trong khi đang phẫu thuật) từ cơ thể để quan sát dưới kính hiển vi; xác định sự hiện diện của các tế bào bất thường hoặc tế bào ung thư. Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (fine needle aspiration hay FNA) là phương tiện được lựa chọn hàng đầu để đánh giá nhân giáp. Phương tiện này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trên 90%. 

5. Chụp cắt lớp điện toán và chụp cộng hưởng từ: Chụp cắt lớp điện toán (computerized tomography hay CT) và chụp cộng hưởng từ (magnetic resonance imaging hay MRI) là phương tiện để đánh giá sự lan rộng ung thư tuyến giáp vào các cấu trúc lân cận và di căn hạch. CT có tiêm chất cản quang iod cho thấy hình ảnh chi tiết tuyến giáp và đánh giá di căn hạch tốt hơn MRI, CT cũng ít tốn kém hơn MRI.

Hạn chế của CT khi dùng chất cản quang iod là làm ngăn cản khả năng hấp thu iod trên xạ hình thực hiện sau đó, và có thể gây bão giáp (thyroid storm) trong các trường hợp sử dụng chất cản quang iod liều cao trên bệnh nhân có cường giáp tiềm ẩn. MRI có ưu điểm là không dùng chất cản quang iod và không độc hại do phóng xạ nên có thể giúp thấy rõ tuyến giáp và các cấu trúc kề cận.

A- U TUYẾN GIÁP LÀ GÌ? Tuyến giáp nằm ở trước cổ, dưới đáy của họng. U tuyến giáp có thể là những khối tân sinh lành tính (không ung thư) hoặc ác tính (ung thư). 

Bác sĩ sẽ xác định phương thức điều trị đặc hiệu dựa trên:

  • Tuổi tác, tổng trạng, bệnh sử
  • Độ lan rộng của bệnh
  • Khả năng dung nạp thuốc đặc trị và các phương thức điều trị
  • Tiên lượng diễn biến của bệnh
  • Quan niệm và chọn lựa của bệnh nhân

Việc điều trị có thể bao gồm một hoặc nhiều phương thức sau đây:

1. Phẫu Thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp. Các kiểu phẫu thuật tuyến giáp bao gồm:

– Cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp: cắt bỏ tuyến giáp và nạo hạch chung quanh.

– Cắt thuỳ tuyến giáp: cắt bỏ thuỳ giáp có nhân ung thư. Có thể loại bỏ thêm các hạch chung quanh và một phần của mô giáp còn sót lại.

2. Điều Trị bằng Iod Phóng Xạ (radioactive iodine therapy): Dùng một ượng nhỏ iod phóng xạ (I-131) (dưới dạng viên nang hoặc dung dịch uống) để tiêu diệt toàn bộ các tế bào ung thư tuyến giáp, các tế bào còn sót lại sau phẫu thuật hoặc đã di căn đi nơi khác. Điều trị bằng I-131 thường không dùng để điều trị ung thư tuyến giáp  thể tuỷ hoặc ung thư tuyến giáp không biệt hoá.

3. Xạ trị bằng tia ngoài (external beam therapy): Chiếu chính xác chùm tia phóng xạ liều lượng cao thẳng vào khối ung thư. Thiết bị được vận hành bởi chuyên viên xạ trị. Tia xạ được dùng để tiêu diệt các tế bào ung thư và làm teo nhỏ khối u, các phần mô lành chung quanh tổn thương cần được che chắn cẩn thận. Xạ trị không gây đau và thường chỉ kéo dài trong vòng vài phút.

4. Trị Liệu bằng hocmon: hocmon được sử dụng để tiêu diệt tế bào ung thư, làm chậm sự tăng trưởng của chúng, hoặc ngăn chặn chúng phát triển. Trị liệu ung thư bằng hocmon sử dụng các chất tác động lên hoạt động của các hocmon hoặc chặn đứng sự sản xuất các hocmon dựa trên cơ chế phản hồi ngựơc (feedback). Thường sử dụng thyroxin liều cao để ức chế sản xuất TSH, kìm hãm sự phát triển của ung thư. Hocmon liệu pháp có thể dùng để điều trị các thể ung thư tuyến giáp biệt hoá tốt (thể nhú hoặc thể nang). Phương thức điều trị này còn hữu ích sau khi đã tiến hành phẫu thuật hoặc xạ trị để thay thế hocmon tuyến giáp tự nhiên (thyroxin).

5. Hoá trị liệu: Dùng thuốc hoá chất để điều trị các tế bào ung thư. Hoá trị liệu ngăn cản tế bào ung thư phát triển và sinh sản. Mỗi nhóm thuốc khác nhau sẽ tấn công tế bào ung thư theo một phương thức riêng biệt. Bác sĩ chuyên khoa ung bướu sẽ chọn ra phương án điều trị cho từng bệnh nhân.

F. TIÊN LƯỢNG

– Hầu hết ung thư tuyến giáp đều biệt hoá tốt. Tỉ lệ sống sót 5 năm của UTTG thể nhú là 95% và 10 năm là 90%. Tỉ lệ sống sót 5 năm của UTTG thể nang là 90% và 10 năm là 70%.

– Các yếu tố nguy cơ tái phát: lớn tuổi, u lớn, u xâm lấn ra khỏi tuyến giáp và phẫu thuật lần đầu không đủ rộng.

– UTTG thể tuỷ có tỉ lệ sống sót 5 năm là 90% và 10 năm là  86%.

– UTTG không biệt hoá thường gặp ở giai đoạn IV, đã quá chỉ định phẫu thuật tận gốc, thời gian sống sót trung bình là 1 năm.

BS ĐỒNG NGỌC KHANH – BV Hoàn Mỹ Sài Gòn

Chuyên mục: Kiến thức

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Check Also
Close
Back to top button