Kiến thức

Về phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

Về phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

Ngày phát hành: 13/06/2019 Lượt xem 70494

                                                                  

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng đã nêu ra 8 phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta như sau:

Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.

Hai là, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.

Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

1.Sự phát triển nhận thức lý luận về phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội:

Với phương hướng 1:

-Những luận điểm đã rõ:

Nhìn nhận công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vấn đề cơ bản của việc phát triển mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Xem xét công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một cách toàn diện hơn: công nghiệp hóa gắn hiện đại hóa; gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức, tức là phù hợp xu thế phát triển của nhân loại; gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với bảo vệ tài nguyên, môi trường là phù hợp thực tế Việt Nam và kinh nghiệm của các nước đi trước đã thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là phù hợp thực tế Việt Nam.

– Những nhận thức và vấn đề chưa rõ, hoặc còn khác nhau:

Tiêu chí của một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như tiêu chí của nền kinh tế tri thức vận dụng vào điều kiện cụ thể Việt Nam chưa thống nhất. Từ đó làm cho chúng ta còn lúng túng về biện pháp, con đường, điểm đột phá để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như xây dựng nền kinh tế tri thức. Chúng ta cũng chưa nhận thức rõ vai trò của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân trong thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức. Trong công nghiệp thì đột phá ngành gì, ưu tiên ngành gì cũng còn lúng túng. Trong nông nghiệp cũng tương tự như vậy, chưa chọn được khâu đột phá để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

– Nguyên nhân hạn chế:

Chưa thống nhất về mặt nhận thức lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, về kinh tế tri thức; còn cầu toàn quá về nghiên cứu lý luận nên chậm trong triển khai thực tiễn. Hơn nữa, chúng ta chậm tổng kết thực tiễn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ môi trường trong thời kỳ đổi mới để rút ra những bài học cần thiết cho thực hiện phương hướng này.

Với phương hướng 2:

-Những luận điểm đã rõ:

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta sẽ thực hiện nhất quán, lâu dài mô hình kinh tế này. Những đặc trưng cơ bản của mô hình kinh tế này đã được nêu ra và về đại thể là được chấp nhận trong toàn Đảng. Đặc biệt, tại Đại hội XII của Đảng, những đặc trưng của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được nhận thức đầy đủ, đúng đắn, phù hợp với kinh tế thị trường hiện đại hơn.

– Những nhận thức và vấn đề chưa rõ, hoặc còn khác nhau:

Vẫn chưa thống nhất trong Đảng, nhất là trong xã hội về những đặc trưng cơ bản của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt là việc cụ thể hóa những đặc trưng này trong từng lĩnh vực để bảo đảm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, còn lúng túng trong tổ chức thực hiện. Do vậy, cơ chế “xin – cho” vẫn còn tồn tại và biểu hiện biến tướng phức tạp.

– Nguyên nhân hạn chế:

Tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về vấn đề này còn chậm. Còn những nhóm lợi ích nhóm xấu tìm mọi cách giữ lại cơ chế “xin – cho”. Hơn nữa, đây là mô hình kinh tế mới chỉ có ở nước ta, nên không thể học hỏi kinh nghiệm các nước khác được.

Với phương hướng 3:

-Những luận điểm đã rõ:

Nhận thức toàn diện hơn về xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cũng như mối liên hệ giữa xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Tư duy lý luận về vai trò của văn hóa đối với phát triển bền vững được khẳng định, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu và động lực của phát triển. Xây dựng và phát triển văn hóa, con người là sức mạnh nội sinh của phát triển bền vững; làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là văn hóa nhân cách, văn hóa trong kinh tế, văn hóa trong chính trị; tư duy bước đầu về xây dựng hệ giá trị, chuẩn mực của văn hóa, con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, chủ động hội nhập quốc tế; đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước trên lĩnh vực văn hóa. Khẳng định sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa là tất yếu chính trị.

Thực tiễn thực hiện phương hướng này cho thấy chúng ta đã nhận thức đầy đủ hơn về vai trò, vị trí của giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ với tư cách là quốc sách hàng đầu. Đã gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước đi và từng chính sách phát triển. Chế độ phân phối đã thể hiện được tinh thần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội của Đảng.

– Những nhận thức và vấn đề chưa rõ, hoặc còn khác nhau:

Cơ chế, điều kiện phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa còn chung chung, chưa rõ ràng, chưa cụ thể. Xã hội công dân chưa được nghiên cứu đầy đủ, nghiêm túc chỉ đơn thuần là phủ định. Chưa đề ra được hệ giá trị chuẩn mực văn hóa Việt Nam; hệ giá trị con người Việt Nam. Chưa có giải pháp đột phá để bứt phá về giáo dục, đào tạo; phát triển khoa học công nghệ; trọng dụng nhân tài. Nhiều chủ trương đúng vẫn dừng ở tư tưởng, quan điểm chưa hoặc chậm triển khai trên thực tế.

– Nguyên nhân hạn chế:

Chúng ta còn chủ quan và chưa nhận thức, đánh giá đúng vai trò, vị trí của một số vấn đề văn hóa, xã hội, con người, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trong mối quan hệ với kinh tế; chưa nhận thức hết vai trò sức mạnh mềm của văn hóa. Còn có tư tưởng tuyệt đối hóa kinh tế, còn tâm lý chỉ chú ý lo tăng trưởng GDP. Chúng ta chậm tổng kết thực tiễn việc xây dựng xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với xây dựng con người.

Với phương hướng 4:

-Những luận điểm đã rõ:

Đã nhận thức và gắn kết nhiệm vụ quốc phòng, an ninh quốc gia với nhiệm vụ giữ vững chế độ, bảo vệ Đảng, giữ vững an toàn, trật tự xã hội, văn hóa cũng như gắn kết phương hướng bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia với với yêu cầu giữ vững an toàn, trật tự xã hội, bảo đảm cuộc sống của nhân dân. Trên thực tế, phương hướng bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội luôn gắn với nhiệm vụ đối ngoại. Nhận thức mềm dẻo, linh hoạt phù hợp thực tiễn về “đối tác” và “đối tượng” trong quốc phòng, an ninh được thay thế cho nhận thức cũ, cứng nhắc. Gắn xây dựng đường lối quốc phòng, an ninh nhân dân với kiên quyết, kiên trì giữa vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng đất, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc.

– Những nhận thức và vấn đề chưa rõ, hoặc còn khác nhau:

Nhận thức lý luận về vấn đề ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh từ xa vẫn còn chung chung, chưa cụ thể. Có những vấn đề liên quan đến nội bộ trong đời sống xã hội của nhân dân gắn với an toàn, trật tự xã hội, bảo đảm cuộc sống của nhân dân như “Luật biểu tình” chưa được nhận thức giải quyết triệt để, còn các ý kiến trái chiều. Đây là một trong những nguyên nhân chưa giải quyết triệt để vấn đề tụ tập đông người, lợi dụng dân chủ, “dân chủ quá trớn” gây mất trật tự, an toàn xã hội cho người dân. Vấn đề an ninh phi truyền thống chưa được quan tâm đúng mức. Việc nghiên cứu những dự báo chiến lược về lĩnh vực quốc phòng, an ninh chưa theo kịp sự phát triển của tình hình. Đặc biệt là những nhận thức và tư duy chiến lược về vấn đề biển Đông chưa chủ động, còn chậm so với một số nước khác trong khu vực, thậm chí có lúc bị động, còn có biểu hiện chạy theo lợi ích kinh tế mà coi nhẹ chiến lược quốc phòng, an ninh.

– Nguyên nhân hạn chế:

Chúng ta chưa tập trung nghiên cứu, giải quyết dứt điểm những vấn đề liên quan quốc phòng, an ninh nảy sinh từ thực tế; còn thận trọng quá mức dẫn tới “né tránh” vấn đề.

Với phương hướng 5:

-Những luận điểm đã rõ:

Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết trong đối ngoại. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế đã được kiên trì, kiên định trong qúa trình thực hiện Cương lĩnh. Từ “sẵn sàng là bạn” “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” chúng ta đã chuyển thành công sang phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” và “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế” tức là công tác đối ngoại ngày càng toàn diện hơn. “Đối ngoại nhân dân” đã được thay bằng “Ngoại giao nhân dân”. Chúng ta luôn giữ vững nguyên tắc chiến lược, mềm dẻo trong sách lược bằng những biện pháp, hình thức linh hoạt, sáng tạo, tranh thủ điểm tương đồng, hạn chế bất đồng, giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình.

– Những nhận thức và vấn đề chưa rõ, hoặc còn khác nhau:

Tính tới tháng 9/2018, Việt Nam có 3 đối tác chiến lược toàn diện, 16 đối tác chiến lược (bao gồm cả 3 đối tác chiến lược toàn diện) và 12 đối tác toàn diện nhưng chúng ta chưa có “chiến lược, chương trình, nội dung” cụ thể cho từng đối tác và chưa có trọng tâm, trọng điểm để đột phá về đối ngoại.

Nội hàm của khái niệm lợi ích quốc gia dân tộc, độc lập, chủ quyền, cùng thế nào là ưu tiên bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay còn chung chung, chưa rõ.

– Nguyên nhân hạn chế:

Chưa xác định thật rõ liên minh hay liên hiệp mà mình phải dựa vào khi tình hình khó khăn, trong khi bối cảnh thế giới biến động khôn lường. Do vậy, chúng ta còn rất cẩn trọng trong xác định từng đối tác cụ thể trong đối ngoại. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về những vấn đề trên còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Với phương hướng 6:

-Những luận điểm đã rõ:

Chuyển “dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, động lực của công cuộc đổi mới” thành “dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, động lực của phát triển đất nước”. Như vậy đầy đủ hơn, đúng đắn hơn, phù hợp thực tế hơn. Coi dân chủ xã hội chủ nghĩa như một phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội. Gắn xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa với thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất. Đại đoàn kết toàn dân tộc được mở rộng trên cơ sở “cộng đồng Việt Nam” rộng hơn trước kia trên cơ sở  các “dân tộc trong nước”. Lấy điểm tương đồng về mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

– Những nhận thức và vấn đề chưa rõ, hoặc còn khác nhau:

Cơ chế, phương thức thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra chưa rõ” cho nên việc phát huy vai trò, quyền làm chủ của nhân dân còn hạn chế. Cơ chế, điều kiện thực hiện dân chủ trực tiếp của nhân dân còn hạn chế. Phương thức hoạt động hiệu quả nhất trong điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội và các đoàn thể nhân dân chưa rõ. Bệnh hành chính hóa, nguy cơ quan liêu hóa của các cơ quan này được nhận thức từ sớm nhưng chưa có giải pháp hữu hiệu, triệt để khắc phục.

– Nguyên nhân hạn chế:

Chúng ta chưa quyết liệt giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tế, bằng lòng với kết quả đã có. Chưa tổng kết thực tiễn, xây dựng mô hình thí điểm hoạt động của Mặt trận đoàn kết để tìm ra phương thức hoạt động tối ưu. Chưa quyết liệt tổng kết thực hiện việc thí điểm nhân dân bầu trực tiếp một số chức danh lãnh đạo ở cấp cơ sở và cấp quận (huyện) để tổ chức thực hiện trên cả nước.

Với phương hướng 7:

-Những luận điểm đã rõ:

So với Cương lĩnh 1991, lần đầu tiên tính chất pháp quyền xã hội chủ nghĩa được khẳng định trong phương hướng xây dựng nhà nước ở Việt Nam. Coi xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trên tất cả các mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp và xây dựng đội ngũ công chức là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị.

– Những nhận thức và vấn đề chưa rõ, hoặc còn khác nhau:

Chúng ta mới chỉ thấy tính chất pháp quyền trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chưa thấy được đây là phương thức thực hiện quyền lực của nhân dân hiệu quả nhất, cũng như phương thức thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa thực tế nhất trong điều kiện hiện nay.

Mô hình, cơ chế vận hành của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa còn chưa rõ, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Cụ thể cơ chế “phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp” trong thực hiện quyền lực nhà nước chưa được làm rõ. Do vậy, chưa có cơ chế ngăn chặn sự tha hóa quyền lực trong bộ máy nhà nước.

Chúng ta phủ định mô hình “tam quyền phân lập” của phương Tây một cách giản đơn mà không nghiên cứu để tìm ra “hạt nhân hợp lý”, gạt bỏ những bất hợp lý không phù hợp điều kiện Việt Nam.

– Nguyên nhân hạn chế:

Đây là vấn đề mới và khó cho nên chúng ta chưa nghiên cứu về mặt lý luận một cách toàn diện, bài bản. Đã vậy, chúng ta chưa tổng kết được thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam để rút ra bài học cho việc kiểm soát quyền lực tốt hơn. Chúng ta chưa quyết liệt trong việc loại bỏ những công chức biến chất, tha hóa ra khỏi bộ máy nhà nước. Việc xây dựng bộ máy nhà nước tinh giản, hiệu lực, hiệu quả bàn, tổ chức triển khai nhiều nhiều nhưng kết quả rất hạn chế.

Với phương hướng 8:

-Những luận điểm đã rõ:

Khẳng định và kiên trì, kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động mà còn của cả dân tộc. Cùng với xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị, tổ chức thì Đảng Cộng sản Việt Nam rất coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức. Những luận điểm này phù hợp thực tiễn Việt Nam và được thực tiễn chứng minh là đúng.

– Những nhận thức và vấn đề chưa rõ, hoặc còn khác nhau:

Mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ được nêu ra từ rất sớm nhưng nội hàm, cơ chế vận hành của mối quan hệ này còn lúng túng, chưa rõ. Quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và công dân cũng chưa được làm rõ. Vấn đề kiểm soát quyền lực trong Đảng cũng chưa được nhận thức và giải quyết một cách quyết liệt. Cơ chế ngăn ngừa sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự suy thoái, tự chuyển hóa” còn chung chung.

– Nguyên nhân hạn chế:

Chậm nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng, vai trò của xây dựng Đảng về Đạo đức; tổ chức thực hiện trên thực tế công tác xây dựng Đảng về đạo đức chưa tốt. Chúng ta tổ chức đấu chống tham nhũng, quan liêu, cửa quyền ,v.v.. trong bộ máy Đảng, chính quyền trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội nhưng hiệu quả không cao, chưa đáp ứng yêu cầu mong mỏi của nhân dân và yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.

2. Khái quát việc thực hiện các phương hướng cơ bản: Ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.

Ưu điểm và nguyên nhân:

Tám phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội được thực hiện đồng bộ, toàn diện trong mối liên hệ với việc giải quyết 9 quan hệ lớn và đã đạt được những thành tựu rất quan trọng:

 Kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng kinh tế nhìn chung năm sau cao hơn năm trước, quy mô nền kinh tế tăng nhanh, nước ta trở thành nước có thu nhập trung bình. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện. Năng xuất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên. Các đột phá chiến lược được đẩy mạnh triển khai. Mô hình tăng trưởng bao trùm lấy con người làm trung tâm, không để ai tụt lại phía sau; dựa vào phát huy trí lực con người để phát triển và vì con người bước đầu được hình thành, khẳng định, củng cố. Cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được khẳng định. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ được chỉ đạo thực hiện đồng bộ, quyết liệt và có những kết quả chuyển biến tích cực nhất là xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. Những năm gần đây, nhân dân đang trở thành trung tâm của sự phát triển. Tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng cường, chính trị – xã hội ổn định; trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm. Dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được phát huy và trở thành động lực phát triển đất nước. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố vững chắc hơn. Xây dựng Đảng được triển khai đồng bộ, toàn diện, gắn xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị, tổ chức với đạo đức. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí được chỉ đạo quyết liệt, đạt nhiều kết quả thiết thực, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị đạt kết quả khả quan, bộ máy bước đầu được tinh giản, chính phủ liêm chính, kiến tạo, xây dựng được củng cố. Đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt nhiều thành tựu nổi bật. Vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Những kết quả trên khẳng định sự đúng đắn, phù hợp thực tiễn của các phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Có được những kết quả trên là do Đảng ta đã đề ra được những phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội đúng đắn, phù hợp thực tiễn nước ta, phù hợp với nguyện vọng, lợi ích của nhân dân, được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đồng lòng, quyết tâm thực hiện. Nhà nước Việt Nam đã kịp thời cụ thể hóa, thể chế hóa các phương hướng này thành các chính sách cụ thể phù hợp tình hình thực tiễn từng giai đoạn. Đồng thời các bạn bè quốc tế nhiệt tình ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ. Điều kiện trong nước, khu vực và quốc tế cũng thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện các phương hướng này.

Hạn chế và nguyên nhân:

Cùng với những thành tựu đạt được trên thì việc thực hiện các phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong thời gian qua vẫn còn những hạn chế:

Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao. Cơ chế bao cấp biến tướng, trá hình vẫn tồn tại. Chúng ta không đạt mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020. Kinh tế tri thức chưa được quan tâm phát triển. Bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học còn nhiều bất cập. Văn hóa, xã hội còn có những mặt bất cập; giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu. Xây dựng, phát triển con người Việt Nam toàn diện, còn có mặt, nhất là đạo đức, nhân cách chưa đáp ứng yêu cầu. Xây dựng Đảng về đạo đức chưa đạt mong muốn và yêu cầu. Bộ máy hành chính còn cồng kềnh, cải cách hành chính chưa được như mong muốn và chưa đạt yêu cầu. Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng. Niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ được nâng lên nhưng chưa bền vững. Chưa kiểm soát tốt quyền lực trong bộ máy Đảng và chính quyền, mô hình, phương thức kiểm soát quyền lực trong bộ máy Đảng và Nhà nước cũng chưa rõ. Nội dung, phương thức của đảng cầm quyền, mô hình bộ máy nhà nước tinh giản, hiệu lực, hiệu quả còn chưa thật rõ.

Những hạn chế trên có những nguyên nhân chủ yếu: Nhận thức lý luận của chúng ta về một số vấn đề như tiêu chí của nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tiêu chí nền kinh tế tri thức;  hệ tiêu chí giá trị văn hóa Việt Nam; hệ tiêu chí con người mới Việt Nam chưa thống nhất. Những nội dung, phương thức của đảng cầm quyền, mô hình bộ máy nhà nước tinh giản, hiệu lực, hiệu quả còn chưa rõ. Mô hình, phương thức kiểm soát quyền lực trong bộ máy Đảng và Nhà nước còn chưa rõ. Lý luận về phát triển kinh tế tri thức hướng tới đáp ứng cách mạng công nghiệp 4.0 chưa rõ. Điều này dẫn đến lúng túng trong triển khai, tổ chức thực hiện và kết quả chưa được như mong muốn.

 Chúng ta còn có biểu hiện chủ quan trong thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc xây dựng Đảng về đạo đức còn có biểu hiện chưa thật quyết liệt, chưa thật quyết tâm. Việc cụ thể hóa, thể chế hóa các chủ trương của Đảng còn chậm. Việc triển khai, tổ chức thực hiện nghị quyết, chủ trương của Đảng chậm, việc tổng kết, đánh giá, rút ra bài học kinh nghiệm chưa kịp thời. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, nhất là cán bộ cấp chiến lược chưa ngang tầm nhiệm vụ.

3. Những vấn đề đặt ra về phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Một là, cần nghiên cứu làm rõ nội dung, tiêu chí của nền kinh tế tri thức. Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải phù hợp với xu thế của cách mạng công nghiệp 4.0 và gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường. Không nên phát triển những ngành công nghiệp truyền thống tiêu hao nhiều nguyên, nhiên liệu, xả thải nhiều ra môi trường; xử dụng nhiều nhân công giá rẻ. Những ngành này đi ngược xu thế của cách mạng công nghiệp 4.0 và đã hết giới hạn phát triển. Thực tế phát triển kinh tế – xã hội của đất nước cho phép chúng ta dần chuyển sang phát triển những ngành công nghiệp dựa trên khai thác trí tuệ sáng tạo của con người, ít sử dụng tài nguyên thiên nhiên.

Hai là, tiếp tục giải quyết tốt quan hệ Nhà nước – Thị trường – Xã hội. Để bảo đảm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì phải giải quyết tốt quan hệ Nhà nước – Thị trường – Xã hội trên thực tế. Có 4 chủ thể tham gia giải quyết quan hệ này là Nhà nước, Thị trường, Xã hội và doanh nghiệp. Cần giải quyết hài hòa lợi ích của 4 chủ thể này. Đồng thời, cần khắc phục triệt để cơ chế bao cấp, “xin – cho” trá hình, vì còn “xin – cho” thì chưa thế có cơ chế thị trường đúng nghĩa. Đặc biệt, cần chuyển tư duy “xin – cho” sang tư duy phân bổ nguồn lực dựa trên kết quả đầu ra; căn cứ trên các nguyên tắc thị trường để phân bổ nguồn lực; tăng tính tự chủ cho địa phương, doanh nghiệp trong sử dụng nguồn lực. Cơ chế “xin – cho” là điểm nghẽn cố hữu trong việc giải quyết quan hệ nhà nước – thị trường ở nước ta hiện nay. Vì vậy, thay vì nhà nước trực tiếp phân bổ, thì nhà nước thực hiện hoàn thiện thể chế để thị trường phân bổ một cách tối ưu các nguồn lực, trước hết là các nguồn lực tài chính, đất đai. Muốn vậy, hệ thống thể chế về thẩm định, phê duyệt dự án, kiểm tra, giám sát việc sử dụng nguồn lực phải được rà soát tổng thể để bổ sung, chỉnh sửa theo hướng minh bạch hóa, xóa bỏ lợi ích cục bộ ngành, địa phương.

Ba là, ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục sự tha hóa của con người Việt Nam do tác động mặt trái kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế cũng như do quản lý kinh tế – xã hội, quản lý cán bộ chưa hiệu quả của chúng ta. Phải khắc phục cho được tính thực dụng, vụ lợi, cá nhân chủ nghĩa, lợi ích nhóm, vô cảm, thờ ơ với nỗi đau, sự không may mắn của đồng loại, của nhân dân ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Khắc phục tính ngoại lai, lai căng, ít hiểu biết lịch sử của cha ông, dân tộc. Đồng thời, phải khắc phục những hạn chế vốn có của con ngươì Việt Nam nói chung như nghiêng về tư duy kinh nghiệm, yếu tư duy chiến lược; ngại thay đổi; tư tưởng gia trưởng; trọng tình hơn lý; nể nang, tuỳ tiện; lối sống mang nặng tâm lý cộng đồng làng xã,v.v.. Chỉ trên cơ sở khắc phục những hạn chế này chúng ta mới phát huy được tối đa mặt mạnh của con người Việt Nam. Chúng ta phải tạo điều kiện cho mỗi người Việt Nam được nói, được nghe, được phát biểu chính kiến của mình, được hiến kế sáng tạo. Muốn dân chủ thực sự thì phải dân chủ hóa đời sống kinh tế làm cơ sở cho dân chủ hóa đời sống chính trị, lấy dân chủ hóa trong Đảng làm điều kiện, tiền đề để dân chủ hóa đời sống xã hội. Tuy nhiên, thực hành dân chủ phải theo tinh thần đổi mới. Dân chủ là điều kiện cho đổi mới, không có dân chủ thì không có đổi mới. Có đổi mới thì mới có cơ sở để sáng tạo. Do vậy, đổi mới phải sáng tạo, không sáng tạo thì không thể là đổi mới. Làm được như vậy thì mọi hoạt động mới có năng suất, chất lượng, hiệu quả. Đồng thời, thực hành dân chủ là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách thực sự, giảm bớt dân chủ gián tiếp, tăng cường dân chủ trực tiếp của người dân. Phát huy dân chủ phải đi đôi với giữ gìn kỷ cương, kỷ luật, tránh dân chủ hình thức.

Bốn là, cần tập trung nghiên cứu cơ sở khoa học nhằm hình thành 3 trụ cột trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh mang tầm khu vực:

Thứ nhất, phát triển thế trận quốc phòng nhân dân và an ninh nhân dân trên địa bàn biển đảo mà lực lượng nòng cốt là hải quân mạnh;

Thứ hai, phát triển cơ sở hạ tầng khoa học công nghệ quốc phòng, an ninh tiên tiến, hiện đại;

Thứ ba, xây dựng đội ngũ cán bộ chỉ huy và chuyên gia kỹ thuật quốc phòng, an ninh tinh nhuệ. Đồng thời nghiên cứu, chủ động xây dựng các phương án dự phòng cho việc xử lý những vấn đề an ninh phi truyền thống.

Năm là, nghiên cứu làm rõ hơn nội hàm của khái niệm lợi ích quốc gia dân tộc; độc lập, chủ quyền; cùng thế nào là ưu tiên bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc trong hội nhập quốc tế hiện nay. Trên cơ sở đó, cụ thể hóa, thể chế hóa bằng các chính sách phù hợp với tình hình trong nước, khu vực và quốc tế.

Sáu là, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn thí điểm, đề xuất cơ chế thực hiện dân chủ trực tiếp cho nhân dân, trước hết là thực hiện nhân dân bầu trực tiếp các chức danh lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở và cấp huyện, tiến tới thực hiện phổ biến trên cả nước và ở tất cả các cấp.

Bảy là, nghiên cứu, xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam để tránh lạm quyền, lộng quyền và buông lỏng quyền lực.

Tám là, tiếp tục kiên định, kiên trì xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh, để Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh, là lương tâm, trí tuệ của thời đại. Có như vậy mới lấy lại được niềm tin của nhân dân vào Đảng và mới giữ được vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Trong điều kiện hiện nay, “mất dân”, “mất niềm tin” của nhân dân là mất vai trò cầm quyền của Đảng.

4. Bổ sung nhận thức về phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Một là, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng bao trùm – mô hình phát triển bao gồm cả kinh tế, tài chính, văn hóa – xã hội, trong đó con người phải là trung tâm. Trong mô hình phát triển này mọi người đều có cơ hội thể hiện hết tài năng, sáng tạo, năng lực của mình và mọi người cũng như mỗi người đều được hưởng lợi, bảo đảm  “không bỏ ai lại phía sau” và phải hướng tới “nhu cầu của những đối tượng dễ bị tổn thương nhất đều được đáp ứng”. Mô hình phát triển bao trùm sẽ phát huy được vai trò con người, từ đó giải quyết được điểm nghẽn về nguồn nhân lực chất lượng cao, từ đây sẽ giải quyết được điểm nghẽn về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và điểm nghẽn về kết cấu hạ tầng của nền kinh tế. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; từng bước phát triển kinh tế tri thức; phát triển các ngành kinh tế biển phù hợp điều kiện cụ thể. Tạo đột phá trong năng xuất, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao; công nghiệp hóa dược và kinh tế du lịch. Quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái. Chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống.

Hai là, tạo bước đột phá trong đổi mới giáo dục và đào tạo, phát triển khoa học và công nghệ; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nguồn nhân lực lãnh đạo, quản trị đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp 4.0. Tăng cường xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh phát triển đất nước. Phải “làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội…”.  Xây dựng, phát triển con người Việt Nam toàn diện, là trung tâm, mục tiêu, động lực của sự phát triển đất nước.

Ba là, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, chú trọng bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Giữ vững an ninh, an toàn trật tự xã hội cho phát triển đất nước. Chủ động ứng phó với những vấn đề an ninh phi truyền thống. Quốc phòng, an ninh  nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, xuyên xuốt cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là nhiệm vụ sống còn của đất nước và dân tộc, trong đó mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn biển, đảo và giữ vững an ninh chính trị là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn hiện nay.

Bốn là, chủ động thực hiện các cam kết quốc tế, các hiệp định thương mại thế hệ mới; xử lý tốt các mối quan hệ với các nước lớn, các nước láng giềng, khu vực. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế vì sự phát triển bền vững của đất nước. Chúng ta nên bắt đầu phát triển tư duy đối ngoại theo hướng định vị Việt Nam là “ quốc gia phát triển” vào năm 2045.

Năm là, thực hành và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn với kỷ cương, kỷ luật. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng, khơi dậy niềm tin, khát vọng, niềm tự hào dân tộc của người Việt Nam. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội. Tạo đột phá trong phát huy các nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân; khơi dậy niềm tin, khát vọng phát triển của mỗi người Việt Nam; phát huy sức mạnh mềm của dân tộc cho phát triển. Giải quyết dứt điểm những vấn đề bức xúc, kéo dài; ngăn chặn, đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội; phát triển xã hội lành mạnh. Lấy con người Việt Nam làm trung tâm của mọi sự phát triển.

 Sáu là, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, liêm chính, hành động vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển đất nước trên tất cả các mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp và xây dựng đội ngũ. Xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, liêm chính, từng bước xây dựng Chính phủ điện tử; quản trị thông minh; xây dựng cơ chế kiểm soát hiệu quả quyền lực.

Bảy, tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao sự lãnh đạo toàn diện của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đội ngũ cán bộ, công chức liêm khiết, có phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn ngang tầm nhiệm vụ.

Đồng thời tiếp tục quán triệt và xử lý tốt 9 quan hệ lớn theo tinh thần Đại hội XII và chủ động nhận thức, giải quyết tốt một số quan hệ phát sinh khác. Đó là quan hệ giữa mục tiêu chiến lược và mục tiêu sách lược; quan hệ giữa phát huy nội lực và phát huy ngoại lực; quan hệ giữa thực hành dân chủ và thực hiện kỷ cương, pháp luật; quan hệ giữa dân tộc và quốc tế trong điều kiện mới./.

 

                                                                                                                                                            GS.TS Trần Văn Phòng

Tin Liên quan

Chuyên mục: Kiến thức

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Check Also
Close
Back to top button