Kiến thức

Cacbon monoxit – Wikipedia tiếng Việt

Cacbon monoxit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới điều hướng

Bước tới tìm kiếm

Cacbon monoxit

Cấu trúc phân tử của cacbon monoxit

Cấu trúc phân tử của cacbon monoxit

Tổng quan

Danh pháp IUPAC

Cacbon monoxit
Tên khác cacbon oxit
oxit cacbon
khí than

Công thức phân tử

CO

Phân tử gam

28,01 g/mol
Biểu hiện Chất khí không màu,
không mùi

Số CAS

[630-08-0]
Thuộc tính

Tỷ trọng

pha

1,145 kg/m3 ở 298 K
1,25 kg/m3 ở 273 K
8 kg/cm 3 (rắn)

Độ hòa tan

trong

nước

26 g/m3 ở 273 K

Nhiệt độ nóng chảy

{{{Nhiệt độ nóng chảy}}}

Điểm sôi

-192°C (81 K)

pKa

pKb

Độ nhớt

? c

P

Nguy hiểm

MSDS

MSDS ngoài

Các

nguy hiểm

chính

Cực dễ cháy (F+)
Độc (T)

sinh sản

: độc loại 1

NFPA 704

Nfpa h3.png

Nfpa f4.png

Nfpa r0.png

Điểm bắt lửa

Rủi ro/An toàn

R: 12, 23, 48/23, 61
S: 45, 53
Số

RTECS

FG3500000

Trang dữ liệu bổ sung

Cấu trúc & thuộc tính

n εr, v.v.

Dữ liệu nhiệt động lực

Các trạng thái
rắn, lỏng, khí

Dữ liệu quang phổ

UV

,

IR

,

NMR

,

MS

Các hợp chất liên quan
Các

hợp chất

tương tự

Các hợp chất liên quan

Cacbon

Metan

,

Cacbon dioxit

Ngoại trừ có thông báo khác, các dữ liệu
được lấy ở

25 °C, 100 kPa

Thông tin về sự phủ nhận và tham chiếu

Cacbon monoxit, công thức hóa học là CO, là một chất

khí

không màu, không mùi, bắt cháy và có độc tính cao. Nó là sản phẩm chính trong sự cháy không hoàn toàn của

cacbon

và các hợp chất chứa cacbon.

Có nhiều nguồn sinh ra cacbon monoxit. Khí thải của

động cơ đốt trong

tạo ra sau khi đốt các nhiên liệu gốc cacbon có chứa cacbon monoxit, đặc biệt với nồng độ cao khi nhiệt độ quá thấp để có thể thực hiện việc ôxi hóa trọn vẹn các

hydrocacbon

trong nhiên liệu thành

nước

(dạng hơi) và

cácbon điôxít

, do thời gian có thể tồn tại trong buồng đốt là quá ngắn và cũng có thể là do không đủ lượng

oxy

cần thiết. Thông thường, việc thiết kế và vận hành buồng đốt sao cho có thể giảm lượng CO là khó khăn hơn rất nhiều so với việc thiết kế để làm giảm lượng hydrocacbon chưa cháy hết. Cacbon monoxit cũng tồn tại với một lượng đáng kể trong khói

thuốc lá

. Trong gia đình, khí CO được tạo ra khi các nguồn nhiên liệu như xăng, hơi đốt, dầu hay gỗ không cháy hết trong các thiết bị dùng chúng làm nhiên liệu như xe máy, ô tô, lò sưởi và bếp lò v.v. Khí cacbon monoxit có thể thấm qua

bê tông

hàng giờ sau khi xe cộ đã rời khỏi

ga ra

.

Trong quá khứ, ở một số quốc gia người ta sử dụng cái gọi là town gas để thắp sáng và cung cấp nhiệt vào

thế kỷ XIX

. Town gas được tạo ra bằng cách cho một luồng hơi nước đi ngang qua

than cốc

nóng đỏ; chất tạo thành sau phản ứng của

nước

và cacbon là hỗn hợp của

hydro

và cacbon monoxit. Phản ứng như sau:

H2O + C -t0 → CO + H2

Khí này ngày nay đã được thay thế bằng hơi đốt tự nhiên (

metan

) nhằm tránh các tác động độc hại tiềm ẩn của nó.

Khí gỗ

, sản phẩm của sự cháy không hoàn toàn của

gỗ

cũng chứa cacbon monoxit như là một thành phần chính.

Xem thêm: Các bài giảng VẬT LÝ lớp 11 của cô Nguyễn Thị Bích Nhung-Thông tin tuyển sinh

Độc tính[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Xem chi tiết tại bài:

Ngộ độc cacbon monoxit

Cacbon monoxit là cực kỳ nguy hiểm, do việc hít thở phải một lượng quá lớn CO sẽ dẫn tới thương tổn do giảm oxy trong máu hay tổn thương hệ thần kinh cũng như có thể gây

tử vong

. Nồng độ chỉ khoảng 0,01% cacbon monoxit trong không khí cũng có thể là nguy hiểm đến tính mạng.

CO là chất khí không màu, không mùi và không gây kích ứng nên rất nguy hiểm vì người ta không cảm nhận được sự hiện diện của CO trong không khí. CO có tính liên kết với

hemoglobin

(Hb) trong

hồng cầu

mạnh gấp 250-280 lần so với

oxy

nên khi được hít vào phổi CO sẽ gắn chặt với Hb thành HbCO do đó máu không thể chuyên chở oxy đến

tế bào

. CO còn gây tổn thương

tim

do gắn kết với

myoglobin

.

Triệu chứng ngộ độc CO thường bắt đầu bằng cảm giác thất thần, nhức đầu, buồn nôn, khó thở rồi từ từ đi vào hôn mê. Nếu ngộ độc CO xảy ra khi đang ngủ say hoặc uống

rượu

say thì người bị ngộ độc sẽ hôn mê từ từ, ngưng thở và

tử vong

.

Ngộ độc CO có thể xảy ra ở những trường hợp chạy máy nổ phát điện trong nhà kín, sản phụ nằm lò than trong phòng kín, ngủ trong xe hơi đang nổ máy trong nhà hoặc gara…

Lịch sử[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Cacbon monoxit đã được

nhà hóa học

người Pháp

de Lassone

điều chế lần đầu tiên năm

1776

bằng cách đốt nóng

oxit kẽm

(ZnO) với than cốc, nhưng ông đã sai lầm khi cho khí thu được là hydro do nó cũng cháy với ngọn lửa màu

xanh lam

. Sau này, nó được nhà hóa học

người Anh

William Cruikshank

xác định là một hợp chất chứa cacbon và oxy năm

1800

.

Nhà sinh lý học người Pháp là

Claude Bernard

vào khoảng năm

1846

đã lần đầu tiên nghiên cứu kỹ lưỡng các thuộc tính độc hại của cacbon monoxit. Ông cho các con

chó

hít thở khí này và nhận ra rằng máu của chúng tại tất cả các mạch máu là đỏ hơn.

Xem thêm: Cung lượng tim: tuần hoàn tĩnh mạch điều hòa cung lượng tim

Hóa học[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Cấu trúc của phân tử CO được mô tả tốt nhất dựa theo thuyết

quỹ đạo phân tử

. Độ dài của

liên kết hóa học

(0,111

nm

) chỉ ra rằng nó có đặc trưng liên kết ba một phần. Phân tử có

momen lưỡng cực

nhỏ (0,112 Debye hay 3,74×10−31 C.m) và thông thường được biểu diễn bằng 3 cấu trúc cộng hưởng:

Carbon monoxide mesomeric.svg

Lưu ý rằng quy tắc octet (

quy tắc bát tứ

) bị vi phạm đối với nguyên tử cacbon trong hai cấu trúc thể hiện bên phải.

Nó thể hiện tính khử trong một số phản ứng với các oxit kim loại có độ hoạt động hóa học yếu ở nhiệt độ cao, chẳng hạn

oxit đồng (II)

, theo phản ứng sau:

CO + CuO → CO2 + Cu

Kim loại

niken

tạo ra hợp chất dễ bay hơi với CO, được biết đến với tên gọi

niken cacbonyl

. Cacbonyl bị phân hủy rất nhanh ngược trở lại thành kim loại và khí CO, và nó được sử dụng làm nền tảng cho việc làm tinh khiết niken.

Nhiều kim loại khác cũng có thể tạo ra các

phức chất

cacbonyl chứa các liên kết cộng hóa trị với cacbon monoxit, các chất này có thể tạo ra bằng một loạt các phương pháp khác nhau, ví dụ đun sôi

rutheni

triclorua với

triphenyl photphin

trong mêthoxyêtanol (hay DMF) thì có thể thu được phức chất [RuHCl(CO)(PPh3)3].

Niken cacbonyl

là đặc biệt do nó có thể được tạo ra bằng tổ hợp trực tiếp cacbon monoxit và

niken

kim loại ở nhiệt độ phòng.

Trong niken cacbonyl và các cacbonyl khác, cặp

điện tử

trên nguyên tử cacbon được liên kết với kim loại. Trong trường hợp này cacbon monoxit được nói đến như là nhóm cacbonyl.

Cacbon monoxit và

metanol

có phản ứng với nhau có

chất xúc tác

gốc

rodi

để tạo ra

axit axetic

trong

quy trình Monsanto

, nó là phương pháp được sử dụng nhiều nhất để sản xuất axit axêtic công nghiệp.

Cacbon monoxit trong khí quyển[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Cacbon monoxit toàn cầu năm

2000

trong

MOPITT

.

Cacbon monoxit có hiệu ứng bức xạ cưỡng bức gián tiếp bằng sự nâng cao nồng độ của

metan

ozon

tầng đối lưu

thông qua các phản ứng hóa học với các thành phần khác của khí quyển (ví dụ

gốc hydroxyl

, OH) mà nếu không có thể tiêu diệt chúng. Cacbon monoxit được tạo ra khi các nhiên liệu chứa cacbon bị đốt cháy không hoàn toàn, thông qua các quá trình tự nhiên trong khí quyển thì cuối cùng nó sẽ bị ôxi hóa thành

cacbon dioxit

. Nồng độ cacbon monoxit bị biến đổi trong không gian cũng như là tồn tại rất ngắn hạn trong khí quyển.

d

Một phần châu Á bị Cacbon Monoxide che phủ.

5CO + O3 → 4CO2 + C

Xem thêm: Hướng dẫn cài đặt máy in trên Windows 7-Fptshop.com.vn

Tham khảo[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Liên kết ngoài[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Thẻ an toàn hóa chất quốc tế số 0023

  • Hướng dẫn bỏ túi của NIOSH về các nguy hiểm hóa chất

  • Ủy ban hóa chất châu Âu

  • CID 281

    từ

    PubChem

  • Cơ sở dữ liệu về khí thải ô nhiễm của Úc

    -National Pollutant Inventory

Lấy từ “

https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Cacbon_monoxit&oldid=64285218

Chuyên mục: Kiến thức

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Check Also
Close
Back to top button