Kiến thức

Lưu huỳnh – Wikipedia tiếng Việt

Lưu huỳnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới điều hướng

Bước tới tìm kiếm

Lưu huỳnh,  16S

Sulfur-sample.jpg

Sulfur Spectrum.jpg

Quang phổ vạch

của Lưu huỳnh

Tính chất chung
Tên,

ký hiệu

Lưu huỳnh, S
Phiên âm

/ˈsʌlfər/

SUL-fər

Hình dạng Màu vàng chanh
Lưu huỳnh trong

bảng tuần hoàn

Hiđrô (diatomic nonmetal)

Hêli (noble gas)

Liti (alkali metal)

Berili (alkaline earth metal)

Bo (metalloid)

Cacbon (polyatomic nonmetal)

Nitơ (diatomic nonmetal)

Ôxy (diatomic nonmetal)

Flo (diatomic nonmetal)

Neon (noble gas)

Natri (alkali metal)

Magiê (alkaline earth metal)

Nhôm (post-transition metal)

Silic (metalloid)

Phốtpho (polyatomic nonmetal)

Lưu huỳnh (polyatomic nonmetal)

Clo (diatomic nonmetal)

Argon (noble gas)

Kali (alkali metal)

Canxi (alkaline earth metal)

Scandi (transition metal)

Titan (transition metal)

Vanadi (transition metal)

Chrom (transition metal)

Mangan (transition metal)

Sắt (transition metal)

Coban (transition metal)

Niken (transition metal)

Đồng (transition metal)

Kẽm (transition metal)

Gali (post-transition metal)

Gecmani (metalloid)

Asen (metalloid)

Selen (polyatomic nonmetal)

Brom (diatomic nonmetal)

Krypton (noble gas)

Rubidi (alkali metal)

Stronti (alkaline earth metal)

Yttri (transition metal)

Zirconi (transition metal)

Niobi (transition metal)

Molypden (transition metal)

Tecneti (transition metal)

Rutheni (transition metal)

Rhodi (transition metal)

Paladi (transition metal)

Bạc (transition metal)

Cadimi (transition metal)

Indi (post-transition metal)

Thiếc (post-transition metal)

Antimon (metalloid)

Telua (metalloid)

Iốt (diatomic nonmetal)

Xenon (noble gas)

Xêsi (alkali metal)

Bari (alkaline earth metal)

Lantan (lanthanide)

Xeri (lanthanide)

Praseodymi (lanthanide)

Neodymi (lanthanide)

Promethi (lanthanide)

Samari (lanthanide)

Europi (lanthanide)

Gadolini (lanthanide)

Terbi (lanthanide)

Dysprosi (lanthanide)

Holmi (lanthanide)

Erbi (lanthanide)

Thuli (lanthanide)

Ytterbi (lanthanide)

Luteti (lanthanide)

Hafni (transition metal)

Tantan (transition metal)

Wolfram (transition metal)

Rheni (transition metal)

Osmi (transition metal)

Iridi (transition metal)

Platin (transition metal)

Vàng (transition metal)

Thuỷ ngân (transition metal)

Tali (post-transition metal)

Chì (post-transition metal)

Bitmut (post-transition metal)

Poloni (post-transition metal)

Astatin (metalloid)

Radon (noble gas)

Franxi (alkali metal)

Radi (alkaline earth metal)

Actini (actinide)

Thori (actinide)

Protactini (actinide)

Urani (actinide)

Neptuni (actinide)

Plutoni (actinide)

Americi (actinide)

Curi (actinide)

Berkeli (actinide)

Californi (actinide)

Einsteini (actinide)

Fermi (actinide)

Mendelevi (actinide)

Nobeli (actinide)

Lawrenci (actinide)

Rutherfordi (transition metal)

Dubni (transition metal)

Seaborgi (transition metal)

Bohri (transition metal)

Hassi (transition metal)

Meitneri (unknown chemical properties)

Darmstadti (unknown chemical properties)

Roentgeni (unknown chemical properties)

Copernixi (transition metal)

Nihoni (unknown chemical properties)

Flerovi (post-transition metal)

Moscovi (unknown chemical properties)

Livermori (unknown chemical properties)

Tennessine (unknown chemical properties)

Oganesson (unknown chemical properties)

O


S

Se

Phốtpho

Lưu huỳnh

Clo

Số nguyên tử

(Z)

16

Khối lượng nguyên tử chuẩn

 (±) (Ar)

32,065(5)

Phân loại

 

phi kim

Nhóm

,

phân lớp

16

p

Chu kỳ

Chu kỳ 3

Cấu hình electron

[

Ne

] 3s2 3p4

mỗi lớp
2, 8, 6
Tính chất vật lý

Màu sắc

Vàng chanh

Trạng thái vật chất

Chất rắn

Nhiệt độ nóng chảy

388,36 

K

​(115,21 °C, ​239,38 °F)

Nhiệt độ sôi

717,8 K ​(444,6 °C, ​832,3 °F)

Mật độ

(alpha) 2,07 g·cm−3 (ở 0 °C, 101.325 

kPa

)
(beta) 1,96 g·cm−3
(gamma) 1,92 g·cm−3

Mật độ ở thể lỏng ở nhiệt độ nóng chảy: 1,819 g·cm−3

Điểm tới hạn

1314 K, 20,7 MPa

Nhiệt lượng nóng chảy

(mono) 1,727 

kJ·mol−1

Nhiệt bay hơi

(mono) 45 kJ·mol−1

Nhiệt dung

22,75 J·mol−1·K−1

Áp suất hơi

P (Pa) 1 10 100 1 k 10 k 100 k
ở T (K) 375 408 449 508 591 717
Tính chất nguyên tử

Trạng thái ôxy hóa

6, 5, 4, 3, 2,

1

, -1, -2 ​

Axít

mạnh

Độ âm điện

2,58 (Thang Pauling)

Năng lượng ion hóa

Thứ nhất: 999,6 kJ·mol−1
Thứ hai: 2252 kJ·mol−1
Thứ ba: 3357 kJ·mol−1

Bán kính liên kết cộng hóa trị

105±3

 

pm

Bán kính van der Waals

180

 pm

Thông tin khác

Cấu trúc tinh thể

Trực thoi

Cấu trúc tinh thể Trực thoi của Lưu huỳnh

Độ dẫn nhiệt

(Vô định hình)
0.205 W·m−1·K−1

Điện trở suất

ở 20 °C: (Vô định hình)
2×1015  Ω·m

Tính chất từ

Nghịch từ

[1]

Mô đun nén

7,7 GPa

Độ cứng theo thang Mohs

2,0

Số đăng ký CAS

7704-34-9
Đồng vị ổn định nhất
Bài chính:

Đồng vị của Lưu huỳnh

iso

NA

Chu kỳ bán rã

DM

DE

 (

MeV

)

DP

32S 95,02% 32S ổn định với 16

neutron

33S 0,75% 33S ổn định với 17

neutron

34S 4,21% 34S ổn định với 18

neutron

35S

Tổng hợp

87,32 ngày

β

0,167 35

Cl

36S 0,02% 36S ổn định với 20

neutron

Lưu huỳnh (tên khác: Sulfur, Sulfua hay đơn giản hơn là Sunfua, đọc như “Xun-phua”) là

nguyên tố hóa học

trong

bảng tuần hoàn

có ký hiệu S

số nguyên tử

16. Nó là một

phi kim

phổ biến, không mùi, không vị, nhiều

hóa trị

. Lưu huỳnh, trong dạng gốc của nó là chất rắn kết tinh màu vàng chanh. Trong tự nhiên, nó có thể tìm thấy ở dạng đơn chất hay trong các khoáng chất

sulfua

sulfat

. Nó là một nguyên tố thiết yếu cho sự sống và được tìm thấy trong hai

axit amin

. Sử dụng thương mại của nó chủ yếu trong các

phân bón

nhưng cũng được dùng rộng rãi trong

thuốc súng

,

diêm

,

thuốc trừ sâu

thuốc diệt nấm

.

Các đặc trưng nổi bật[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Một mẩu lưu huỳnh nóng chảy thành chất lỏng màu đỏ máu. Ngọn lửa màu xanh lam của nó có thể quan sát tốt nhất trong bóng tối.

Ở nhiệt độ phòng, lưu huỳnh là một chất rắn xốp màu vàng nhạt. Mặc dù lưu huỳnh không được ưa thích do mùi của nó – thường xuyên bị so sánh với mùi trứng ung – mùi này thực ra là đặc trưng của

hydro sunfua

(H2S); còn lưu huỳnh đơn chất không có mùi. Nó cháy với ngọn lửa màu xanh lam và tỏa ra

điôxít lưu huỳnh

, với mùi ngột ngạt dị thường. Lưu huỳnh không hòa tan trong

nước

nhưng

hòa tan

trong

đisulfua cacbon

và các dung môi không phân cực khác. Các trạng thái

ôxi hóa

phổ biến của nó là -2, -1 (pirit sắt…), +2, +4 và +6. Lưu huỳnh tạo thành các hợp chất ổn định với gần như mọi

nguyên tố

, ngoại trừ các

khí trơ

.

Lưu huỳnh trong trạng thái rắn thông thường tồn tại như là các phân tử vòng dạng vòng hoa S8. Lưu huỳnh có nhiều

thù hình

bên cạnh S8. Loại một nguyên tử từ vòng sẽ là S7, đây là nguyên nhân cho màu vàng đặc trưng của lưu huỳnh. Nhiều vòng khác cũng được điều chế ra, bao gồm S12 và S18. Trái lại, nguyên tố

ôxy

cùng phân nhóm nhưng nhẹ hơn về cơ bản chỉ tồn tại trong hai dạng cơ bản có ý nghĩa hóa học là: O2 và O3.

Selen

, nguyên tố nặng hơn cùng phân nhóm với lưu huỳnh có thể tạo ra các vòng nhưng thông thường nó nằm trong chuỗi

polyme

.

Phân tử lưu huỳnh, S8

Tinh thể

lưu huỳnh rất phức tạp. Phụ thuộc vào các điều kiện cụ thể, các

thù hình

của lưu huỳnh tạo thành vài

cấu trúc tinh thể

khác nhau, với các dạng

hình thoi

xiên đơn

S8 là các dạng được nghiên cứu kỹ nhất.

Một tính chất đáng chú ý là

độ nhớt

của lưu huỳnh nóng chảy, không giống như phần lớn các chất lỏng khác, tăng lên theo nhiệt độ do sự hình thành các chuỗi

polyme

. Tuy nhiên, sau khi đã đạt được một khoảng nhiệt độ nhất định thì độ nhớt lại bị giảm do đã đủ năng lượng để phá vỡ chuỗi polyme.

Lưu huỳnh

vô định hình

hay “dẻo” có thể được tạo ra khi làm nguội nhanh lưu huỳnh nóng chảy. Các nghiên cứu tinh thể bằng

tia X

chỉ ra rằng dạng vô định hình có thể có cấu trúc

xoắn ốc

với 8 nguyên tử trên một vòng. Dạng này là

ổn định động

ở nhiệt độ phòng và dần dần chuyển ngược thành dạng kết tinh. Tiến trình này diễn ra trong vòng vài giờ hay vài ngày nhưng có thể tăng tốc nhờ

xúc tác

.

Ứng dụng[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Lưu huỳnh có nhiều ứng dụng công nghiệp. Thông qua dẫn xuất chính của nó là

axít sulfuric

(

H

2S

O

4), lưu huỳnh được đánh giá là một trong các nguyên tố quan trọng nhất được sử dụng như là nguyên liệu công nghiệp. Nó là quan trọng bậc nhất đối với mọi lĩnh vực của nền

kinh tế thế giới

.

Sản xuất axít sulfuric là sử dụng chủ yếu của lưu huỳnh, và việc tiêu thụ axít sulfuric được coi như một trong các chỉ số tốt nhất về sự phát triển công nghiệp của một quốc gia. Axít sulfuric được sản xuất hàng năm ở

Hoa Kỳ

nhiều hơn bất kỳ hóa chất công nghiệp nào khác.

Lưu huỳnh cũng được sử dụng trong

ắc quy

,

bột giặt

,

lưu hóa

cao su

,

thuốc diệt nấm

và trong sản xuất các phân bón

phốtphat

. Các

sulfit

được sử dụng để

làm trắng

giấy

và làm chất bảo quản trong

rượu vang

và làm khô

hoa quả

. Do bản chất dễ cháy của nó, lưu huỳnh cũng được dùng trong các loại

diêm

,

thuốc súng

pháo hoa

. Các

thiosulfat

natri và amôni được sử dụng như là các tác nhân cố định trong nhiếp ảnh.

Sulfat

magiê

, được biết dưới tên gọi

muối Epsom

có thể dùng như thuốc

nhuận tràng

, chất bổ sung cho các bình ngâm (xử lý hóa học), tác nhân làm tróc vỏ cây, hay để bổ sung

magiê

cho cây trồng.

Cuối

thế kỷ XVIII

, các nhà sản xuất

đồ gỗ

sử dụng lưu huỳnh nóng chảy để tạo ra các lớp

khảm

trang trí trong các sản phẩm của họ. Do điôxít lưu huỳnh được tạo ra trong quá trình nung chảy lưu huỳnh nên các đồ gỗ với lớp khảm lưu huỳnh đã bị loại bỏ rất nhanh.

Từ xa xưa, người ta đã biết dùng Lưu huỳnh để làm đẹp da và trị mụn trứng cá. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào tìm ra cách hoạt động của Lưu huỳnh trong việc điều trị mụn. Bằng thực nghiệm, người ta đã kết luận Lưu huỳnh có khả năng kháng viêm và kháng khuẩn cao, từ đó làm xẹp nốt mụn một cách nhanh chóng. Để đạt hiệu quả cao, Lưu huỳnh có thể được kết hợp với

Axit Salicylic

(BHA) hay

Resorcinol

trong thành phần dược liệu.[

cần dẫn nguồn

]

Xem thêm: CHUYÊN ĐỀ 7 : DẤU CỦA NHỊ THỨC BẬC NHẤT-Hoc24

Vai trò sinh học[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Các

axít amin

cystein

methionin

chứa lưu huỳnh, cũng như mọi

polypeptid

,

protein

enzym

có chứa các axít amin này. Điều đó làm cho lưu huỳnh trở thành thành phần cần thiết cho mọi

tế bào

. Các

liên kết disulfua

giữa các polypeptid là rất quan trọng trong sự tạo thành và cấu trúc của protein.

Homocystein

taurin

cũng là các axít amin chứa lưu huỳnh nhưng không được mã hóa bởi

ADN

và chúng cũng không phải là một phần của

cấu trúc sơ cấp

của các protein. Một số dạng

vi khuẩn

sử dụng

sulfua hiđrô

(H2S) thay vào vị trí của nước như là chất cung cấp

electron

trong các tiến trình thô sơ tương tự như

quang hợp

.

Thực vật

cũng hấp thụ lưu huỳnh từ đất trong dạng các

ion

sulfat

. Lưu huỳnh vô cơ tạo thành một phần của các

cụm sắt-lưu huỳnh

, và lưu huỳnh là chất cầu nối trong vị trí

Cu

A của

cytochrom c ôxidaza

. Lưu huỳnh là thành phần quan trọng của

coenzym A

Ảnh hưởng môi trường[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Sự đốt cháy

than

dầu mỏ

trong công nghiệp và các nhà máy điện giải phóng ra một lượng lớn

điôxít lưu huỳnh

S

O

2, nó sẽ phản ứng với hơi nước và ôxy có trong khí quyển để tạo ra axít sulfuric. Đây là nguyên nhân của các trận

mưa axít

và làm giảm

pH

của

đất

cũng như các khu vực chứa nước ngọt, tạo ra những tổn thất đáng kể cho

môi trường tự nhiên

và gây ra

phong hóa hóa học

đối với các công trình xây dựng và kiến trúc. Các tiêu chuẩn về nhiên liệu đã thắt chặt các chỉ tiêu về hàm lượng lưu huỳnh trong các

nhiên liệu hóa thạch

để giảm thiểu sự hình thành của mưa axít. Lưu huỳnh được tách ra từ các nhiên liệu này sau đó sẽ được làm tinh khiết và tạo ra một phần lớn của sản lượng lưu huỳnh được sản xuất.

Lịch sử[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Tinh thể lưu huỳnh.

Lưu huỳnh (

tiếng Phạn

, sulvere;

tiếng Latinh

sulpur), (còn được gọi là lưu hoàng, sinh diêm vàng, diêm sinh) đã được biết đến từ thời cổ đại, và nó được nhắc đến trong

Pentateuch

của

Kinh Thánh

(

Sáng thế ký

). Các phiên dịch ra tiếng Anh của nó đều coi lưu huỳnh như là “brimstone”, tạo ra tên gọi của các

bài thuyết giáo

“Fire and brimstone”, trong đó

địa ngục

và sự quở trách của Thượng đế đối với những kẻ có tội được nhấn mạnh. Nó có từ phần của Kinh Thánh cho rằng

địa ngục

có mùi của lưu huỳnh.

Trong

tiếng Ả Rập

sufra có nghĩa là màu vàng, có từ màu sáng của dạng tự nhiên của lưu huỳnh và người ta cho rằng nó là nguyên từ của các tên gọi để chỉ lưu huỳnh trong ngôn ngữ của một số quốc gia châu Âu hiện nay.

Homer

đã đề cập tới “lưu huỳnh ngăn ngừa các loài phá hoại” từ

thế kỷ IX TCN

và năm

424 TCN

thì bộ tộc ở

Boeotia

đã tiêu hủy các bức tường của thành phố bằng cách đốt hỗn hợp than, lưu huỳnh và hắc ín dưới chân tường.

Vào khoảng

thế kỷ XII

,

người Trung Quốc

đã phát minh ra

thuốc súng

, nó là hỗn hợp của

nitrat kali

(

KNO3

),

cacbon

và lưu huỳnh. Các

nhà giả kim thuật

ban đầu cho lưu huỳnh ký hiệu giả kim thuật là một

tam giác

ở đỉnh của chữ thập. Vào những năm cuối

thập niên 1770

,

Antoine Lavoisier

đã củng cố niềm tin của cộng đồng khoa học khi cho rằng lưu huỳnh là một nguyên tố chứ không phải hợp chất.

Năm

1867

lưu huỳnh đã được phát hiện trong các mỏ ở

Louisiana

Texas

. Lớp nằm trên của nó là

cát chảy

đã ngăn cản các hoạt động khai thác thông thường. Vì thế

quy trình Frasch

đã nảy sinh và được thực hiện.

Sự phổ biến[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Lưu huỳnh.

Các tinh thể lưu huỳnh ở

suối nước nóng

Wai-o-tapu

,

New Zealand

.

Lưu huỳnh dạng đơn chất có thể tìm thấy ở gần các

suối nước nóng

và các khu vực

núi lửa

tại nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là dọc theo

vành đai lửa Thái Bình Dương

. Các nguồn phổ biến này là cơ sở cho tên gọi truyền thống brimstone, do lưu huỳnh có thể tìm thấy gần các miệng núi lửa. Các trầm tích núi lửa hiện được khai thác tại

Indonesia

,

Chile

Nhật Bản

.

Các mỏ đáng kể của lưu huỳnh đơn chất cũng tồn tại trong các

mỏ muối

dọc theo bờ biển thuộc

vịnh Mexico

và trong các

evaporit

ở Đông Âu và Tây Á. Lưu huỳnh trong các mỏ này được cho là có được nhờ hoạt động của các

vi khuẩn kỵ khí

đối với các khoáng chất

sulfat

, đặc biệt là

thạch cao

. Các mỏ này là nền tảng của sản xuất lưu huỳnh công nghiệp tại

Hoa Kỳ

,

Ba Lan

,

Nga

,

Turkmenistan

Ukraina

.

Lưu huỳnh thu được từ dầu mỏ, khí đốt và

cát dầu Athabasca

đã trở thành nguồn cung cấp lớn trên thị trường, với các kho dự trữ lớn dọc theo Alberta.

Lưu huỳnh khai thác ở

Alberta

, được chuẩn bị giao hàng tại

Vancouver, B. C.

.

Các hợp chất chứa lưu huỳnh nguồn gốc tự nhiên phổ biến nhất là các

sulfua

kim loại, như

pyrit

(sulfua sắt),

cinnabar

hay

chu sa

(sulfua thủy ngân),

galen

(sulfua chì),

sphalerit

(sulfua kẽm) và

stibnit

(sulfua antimon) cũng như các sulfat kim loại, như

thạch cao

(sulfat canxi),

alunit

(sulfat nhôm kali) và

barit

(sulfat bari).

Sulfua hiđrô

là một chất khí tạo ra mùi đặc trưng của trứng thối. Trong tự nhiên, nó có trong các sản phẩm phun trào từ núi lửa, chẳng hạn từ các

miệng phun thủy nhiệt

, và do tác động của vi khuẩn với các hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh khi bị phân hủy.

Các màu đặc trưng của các vệ tinh núi lửa của

Sao Mộc

, như

Io

, là do các dạng khác nhau của lưu huỳnh gây ra (nóng chảy, rắn hay khí). Các khu vực sẫm màu trên

Mặt Trăng

gần

hố

Aristarchus

có thể là mỏ lưu huỳnh. Lưu huỳnh cũng tồn tại trong nhiều loại

thiên thạch

.

Xem thêm: Hóa học 9 Bài 5: Luyện tập tính chất hóa học của oxit và axit

Hợp chất[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Hydro sunfua

có mùi đặc trưng của trứng thối. Khi hòa tan trong nước nó có tính axít và phản ứng với nhiều kim loại để tạo ra các sulfua kim loại. Các sulfua kim loại khá phổ biến, đặc biệt là của sắt. Sulfua sắt còn được gọi là

pyrit

cũng như khoáng sản màu vàng. Một điều thú vị là pyrit có các tính chất bán dẫn

[1]

Lưu trữ

2004-12-20 tại

Wayback Machine

.

Galen

là sulfua chì tự nhiên, là

chất bán dẫn

đầu tiên được phát hiện và nó đã từng được dùng làm bộ

chỉnh lưu

tín hiệu trong các “râu mèo” của các

radio tinh thể

đầu tiên.

Nhiều hợp chất hữu cơ của lưu huỳnh với mùi khó ngửi như các êtyl và mêtyl

mecaptan

được dùng làm chất tạo mùi cho khí đốt nhằm dễ dàng phát hiện rò rỉ. Mùi của

tỏi

và “mùi hôi như

chồn hôi

” cũng do các hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh gây ra. Tuy nhiên, không phải mọi hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh đều có mùi khó ngửi, chẳng hạn,

terpen

-một hợp chất chứa lưu huỳnh là tác nhân tạo ra mùi thơm đặc trưng của quả

bưởi chùm

.

Nitrua lưu huỳnh polyme hóa có các tính chất của kim loại mặc dù nó không chứa bất kỳ một nguyên tử

kim loại

nào. Hợp chất này cũng có các tính chất điện và quang học bất thường. Polyme này có thể tạo ra từ

têtranitrua têtra lưu huỳnh

S4N4.

Các hợp chất quan trọng khác của lưu huỳnh còn có:

Vô cơ:

  • Các

    sulfua

    (S2-) là các hợp chất đơn giản nhất của lưu huỳnh với các nguyên tố hóa học khác.

  • Các

    sulfit

    (SO32-), các muối của

    axít sulfurơ

    , H2SO3, được tạo ra bằng cách hòa tan SO2 trong nước. Axít sulfurơ và các sulfit tương ứng là các chất khử tương đối mạnh. Các hợp chất dẫn xuất khác từ SO2 còn có các ion pyrosulfit hay mêtabisulfit (S2O52−).

  • Các

    sulfat

    (SO42-), các muối của

    axít sulfuric

    . Axít sulfuric cũng phản ứng với SO3 trong các tỷ lệ đẳng phân tử gam để tạo ra

    axít pyrosulfuric

    (H2S2O7).

  • Các

    thiôsulfat

    (đôi khi được gọi là thiôsulfit hay “hyposulfit”) (S2O32−)- như

    thiôsulfat natri

    được dùng như các chất cố định trong nhiếp ảnh (trong vai trò của các chất khử) và

    thiôsulfat amôni

    đã được phát hiện như là chất thay thế cho các

    xyanua

    trong lọc quặng

    vàng

    [2]

    .

  • Đithiônit natri

    , Na2S2O4 tạo ra từ axít hyposulfurơ/đithiônơ – là một chất khử mạnh.

  • Đithiônat natri

    (Na2S2O6)

  • Các

    axít polythiônic

    (H2SnO6), trong đó n dao động từ 3 đến 80.

  • Axít perôxymônôsulfuric

    (H2SO5) và

    axít perôxyđisulfuric

    (H2S2O8)-được điều chế từ phản ứng của SO3 hay

    H2SO4

    với

    H2O2

    đậm đặc một cách tương ứng.

  • Các

    polisulfua natri

    (Na2Sx)

  • Hexaflorua lưu huỳnh

    , SF6, một tác nhân đẩy nặng, dạng khí, không phản ứng và không độc

  • Têtranitrua têtra lưu huỳnh

    S4N4.

  • Các

    thiôxyanat

    là các hợp chất chứa ion thiôxyanat, SCN. Liên quan đến các ion này là

    thiôxyanôgen

    , (SCN)2.

Hữu cơ:

  • đimêtyl sulfôniôprôpiônat

    (

    DMSP

    ; (CH3)2S+CH2CH2COO) là thành phần trung tâm của chu trình lưu huỳnh hữu cơ trong đại dương.

  • Các

    thiôête

    là các phân tử với công thức tổng quát dạng R-S-R′, trong đó RR′ là các nhóm hữu cơ. Các chất này là sự tương đương của các

    ête

    (lưu huỳnh thay thế ôxy).

  • Các

    thiol

    (hay

    mecaptan

    ) là các phân tử với

    nhóm chức

    -SH. Chúng là các chất tương đương với

    rượu

    (lưu huỳnh thay thế ôxy).

  • Các

    thiolat

    có nhóm chức -S gắn vào. Chúng là các chất tương đương của các

    ankôxít

    (lưu huỳnh thay thế ôxy).

  • Sulfôxít

    là các phân tử với nhóm chức R-S(=O)-R′, trong đó RR′ là các nhóm hữu cơ. Một chất phổ biến trong số các sulfôxít là

    DMSO

    .

  • Sulfon

    là các phân tử với nhóm chức R-S(=O)-R′, trong đó RR′ là các nhóm hữu cơ.

  • Thuốc thử Lawesson

    là thuốc thử hóa học có thể lấy ôxy từ các chất hữu cơ khác và thay nó bằng lưu huỳnh.

  • Naptalen-1,8-điyl 1,3,2,4-đithiađiphốtphetan 2,4-đisulfua

Đồng vị[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Lưu huỳnh có 18

đồng vị

, trong đó 4 đồng vị ổn định: S32 (95,02%), S33 (0,75%), S34 (4,21%) và S36 (0,02%). Các đồng vị khác và S35 là các

đồng vị phóng xạ

và có

chu kỳ bán rã

ngắn. S35 được tạo ra từ sự bắn phá của các

tia vũ trụ

với

Ar

40 trong

khí quyển Trái Đất

. Nó có chu kỳ bán rã là 87 ngày.

Khi các khoáng chất sulfua theo nước mưa xuống đất thì cân bằng đồng vị giữa các thể rắn và các thể lỏng có thể sinh ra sự sai biệt nhỏ trong các giá trị của dS34 của các khoáng chất cùng nguồn gốc. Sự khác biệt trong các khoáng chất có thể sử dụng để ước tính nhiệt độ của cân bằng. d

C

13 và dS34 của các

cacbonat

cùng tồn tại và các sulfua có thể sử dụng để xác định

pH

độ khó giữ

ôxy

của các chất lỏng mang theo quặng trong quá trình hình thành quặng.

Trong phần lớn các hệ sinh thái

rừng

, sulfat chủ yếu thu được từ khí quyển hay sự phong hóa của các quặng khoáng sản và các chất đã thoát hơi nước cũng cung cấp một lượng lưu huỳnh nhỏ. Lưu huỳnh với thành phần đồng vị đặc biệt được sử dụng để xác định các nguồn ô nhiễm, và lưu huỳnh được làm giàu được thêm vào dưới dạng dấu vết trong các nghiên cứu

thủy học

. Các khác biệt trong

độ phổ biến tự nhiên

cũng được sử dụng trong các hệ thống mà trong đó có các biến đổi đủ lớn của S34 trong thành phần của hệ sinh thái.

Phòng ngừa[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Các chất như

đisulfua cacbon

,

ôxysulfua cacbon

,

sulfua hiđrô

và điôxít lưu huỳnh cần phải rất cẩn thận khi tiếp xúc.

Mặc dù

điôxít lưu huỳnh

là khá an toàn để sử dụng như là

phụ gia thực phẩm

với một lượng nhỏ, nhưng khi ở nồng độ cao nó phản ứng với hơi ẩm để tạo ra

axít sulfurơ

mà với một lượng đủ lớn có thể gây tổn thương cho

phổi

,

mắt

hay các cơ quan khác. Trong các sinh vật không có phổi như côn trùng hay thực vật thì nó ngăn cản sự

hô hấp

.

Sulfua hiđrô

là rất nhẹ (nó độc hơn nhiều so với

xyanua

). Mặc dù ban đầu nó có mùi, nhưng nó nhanh chóng làm mất cảm giác mùi, vì thế các nạn nhân có thể không biết được sự hiện diện của nó cho đến khi đã quá muộn.

Xem thêm[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Chu trình lưu huỳnh

  • Liên kết đisulfua

  • Sulfoni

    S+, S+R3

Xem thêm: Bass (âm thanh) – Wikipedia tiếng Việt

Tham khảo[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos, Hoa Kỳ-Lưu huỳnh

  • R. Steudel (ed.): Elemental Sulfur and Sulfur-Rich Compounds (phần I & II), Topics in Current Chemistry Vol. 230 & 231, Springer, Berlin 2003.

Chú thích[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  1. ^

    Magnetic susceptibility of the elements and inorganic compounds, in Handbook of Chemistry and Physics

    (PDF). CRC press. 2000.

    ISBN

     

    0849304814

    .

    Bản gốc

    (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2011.

Tham khảo[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Liên kết ngoài[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Biểu đồ pha của lưu huỳnh.

  • WebElements.com-Lưu huỳnh

Lấy từ “

https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Lưu_huỳnh&oldid=64994914

Chuyên mục: Kiến thức

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button