Kiến thức

Magie – Wikipedia tiếng Việt

Magie

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới điều hướng

Bước tới tìm kiếm

Magie,  12Mg

Magnesium crystals.jpg

Magnesium Spectra.jpg

Quang phổ vạch

của magie

Tính chất chung
Tên,

ký hiệu

Magie, Mg
Phiên âm

/mæɡˈnziəm/

,

mag-NEE-zee-əm

Hình dạng Ánh kim xám
Magie trong

bảng tuần hoàn

Hiđrô (diatomic nonmetal)

Hêli (noble gas)

Liti (alkali metal)

Berili (alkaline earth metal)

Bo (metalloid)

Cacbon (polyatomic nonmetal)

Nitơ (diatomic nonmetal)

Ôxy (diatomic nonmetal)

Flo (diatomic nonmetal)

Neon (noble gas)

Natri (alkali metal)

Magiê (alkaline earth metal)

Nhôm (post-transition metal)

Silic (metalloid)

Phốtpho (polyatomic nonmetal)

Lưu huỳnh (polyatomic nonmetal)

Clo (diatomic nonmetal)

Argon (noble gas)

Kali (alkali metal)

Canxi (alkaline earth metal)

Scandi (transition metal)

Titan (transition metal)

Vanadi (transition metal)

Chrom (transition metal)

Mangan (transition metal)

Sắt (transition metal)

Coban (transition metal)

Niken (transition metal)

Đồng (transition metal)

Kẽm (transition metal)

Gali (post-transition metal)

Gecmani (metalloid)

Asen (metalloid)

Selen (polyatomic nonmetal)

Brom (diatomic nonmetal)

Krypton (noble gas)

Rubidi (alkali metal)

Stronti (alkaline earth metal)

Yttri (transition metal)

Zirconi (transition metal)

Niobi (transition metal)

Molypden (transition metal)

Tecneti (transition metal)

Rutheni (transition metal)

Rhodi (transition metal)

Paladi (transition metal)

Bạc (transition metal)

Cadimi (transition metal)

Indi (post-transition metal)

Thiếc (post-transition metal)

Antimon (metalloid)

Telua (metalloid)

Iốt (diatomic nonmetal)

Xenon (noble gas)

Xêsi (alkali metal)

Bari (alkaline earth metal)

Lantan (lanthanide)

Xeri (lanthanide)

Praseodymi (lanthanide)

Neodymi (lanthanide)

Promethi (lanthanide)

Samari (lanthanide)

Europi (lanthanide)

Gadolini (lanthanide)

Terbi (lanthanide)

Dysprosi (lanthanide)

Holmi (lanthanide)

Erbi (lanthanide)

Thuli (lanthanide)

Ytterbi (lanthanide)

Luteti (lanthanide)

Hafni (transition metal)

Tantan (transition metal)

Wolfram (transition metal)

Rheni (transition metal)

Osmi (transition metal)

Iridi (transition metal)

Platin (transition metal)

Vàng (transition metal)

Thuỷ ngân (transition metal)

Tali (post-transition metal)

Chì (post-transition metal)

Bitmut (post-transition metal)

Poloni (post-transition metal)

Astatin (metalloid)

Radon (noble gas)

Franxi (alkali metal)

Radi (alkaline earth metal)

Actini (actinide)

Thori (actinide)

Protactini (actinide)

Urani (actinide)

Neptuni (actinide)

Plutoni (actinide)

Americi (actinide)

Curi (actinide)

Berkeli (actinide)

Californi (actinide)

Einsteini (actinide)

Fermi (actinide)

Mendelevi (actinide)

Nobeli (actinide)

Lawrenci (actinide)

Rutherfordi (transition metal)

Dubni (transition metal)

Seaborgi (transition metal)

Bohri (transition metal)

Hassi (transition metal)

Meitneri (unknown chemical properties)

Darmstadti (unknown chemical properties)

Roentgeni (unknown chemical properties)

Copernixi (transition metal)

Nihoni (unknown chemical properties)

Flerovi (post-transition metal)

Moscovi (unknown chemical properties)

Livermori (unknown chemical properties)

Tennessine (unknown chemical properties)

Oganesson (unknown chemical properties)

Be


Mg

Ca

Natri

Magie

Nhôm

Số nguyên tử

(Z)

12

Khối lượng nguyên tử chuẩn

 (±) (Ar)

24,3050(6)

Phân loại

 

kim loại kiềm thổ

Nhóm

,

phân lớp

2

s

Chu kỳ

Chu kỳ 3

Cấu hình electron

[

Ne

] 3s2

mỗi lớp
2, 8, 2
Tính chất vật lý

Màu sắc

Ánh kim xám

Trạng thái vật chất

Chất rắn

Nhiệt độ nóng chảy

923 

K

​(650 °C, ​1202 °F)

Nhiệt độ sôi

1363 K ​(1091 °C, ​1994 °F)

Mật độ

1,738 g·cm−3 (ở 0 °C, 101.325 

kPa

)

Mật độ ở thể lỏng ở nhiệt độ nóng chảy: 1,584 g·cm−3

Nhiệt lượng nóng chảy

8.48 

kJ·mol−1

Nhiệt bay hơi

128 kJ·mol−1

Nhiệt dung

24,869 J·mol−1·K−1

Áp suất hơi

P (Pa) 1 10 100 1 k 10 k 100 k
ở T (K) 701 773 861 971 1132 1361
Tính chất nguyên tử

Trạng thái ôxy hóa

2, 1

[1]

Bazơ

mạnh

Độ âm điện

1,31 (Thang Pauling)

Năng lượng ion hóa

Thứ nhất: 737,7 kJ·mol−1
Thứ hai: 1450,7 kJ·mol−1
Thứ ba: 7732,7 kJ·mol−1

Bán kính cộng hoá trị

thực nghiệm:

160

 

pm

Bán kính liên kết cộng hóa trị

141±7

 pm

Bán kính van der Waals

173

 pm

Thông tin khác

Cấu trúc tinh thể

Lục phương

Cấu trúc tinh thể Lục phương của Magie

Vận tốc âm thanh

que mỏng: (Sau khi tôi)
4940 m·s−1 (ở r.t.)

Độ giãn nở nhiệt

24,8 µm·m−1·K−1 (ở 25 °C)

Độ dẫn nhiệt

156 W·m−1·K−1

Điện trở suất

ở 20 °C: 43,9 n Ω·m

Tính chất từ

Thuận từ

Mô đun Young

45 GPa

Mô đun cắt

17 GPa

Mô đun nén

45 GPa

Hệ số Poisson

0,290

Độ cứng theo thang Mohs

2,5

Độ cứng theo thang Brinell

260 MPa

Số đăng ký CAS

7439-95-4
Đồng vị ổn định nhất
Bài chính:

Đồng vị của Magie

iso

NA

Chu kỳ bán rã

DM

DE

 (

MeV

)

DP

24Mg 78.99% 24Mg ổn định với 12

neutron

25Mg 10% 25Mg ổn định với 13

neutron

26Mg 11.01% 26Mg ổn định với 14

neutron

Magie,

tiếng Việt

còn được đọc là Ma-giê (Latinh: Magnesium) là

nguyên tố hóa học

trong

bảng tuần hoàn nguyên tố

có ký hiệu Mg

số nguyên tử

bằng 12.

12 magnesium (Mg) Bohr model.png

Thuộc tính[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Magie là

kim loại

tương đối cứng, màu trắng bạc, nhẹ (chỉ nặng khoảng 23{displaystyle {tfrac {2}{3}}}

nhôm

nếu cùng

thể tích

) bị xỉn nhẹ đi khi để ngoài

không khí

. Ở dạng bột, kim loại này bị đốt nóng và bắt lửa khi để vào chỗ ẩm và cháy với ngọn lửa màu trắng. Khi ở dạng tấm dày, nó khó bắt lửa, nhưng khi ở dạng lá mỏng thì nó bắt cháy rất dễ. Khi đã bắt lửa, rất khó dập, nó có thể cháy trong

nitơ

(tạo ra

magie nitrua

) và cả trong

cacbon dioxit

. Magie không tan trong nước nhưng nước nóng đun sôi thì có thể hòa tan Magie.

Xem thêm: Nhiễm Trùng HPV Sinh Dục-Tờ Thông Tin của Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC)

Lịch sử[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Tên gọi của nó có nguồn gốc từ

tiếng Hy Lạp

, khi chỉ tới một khu vực ở

Thessaly

gọi là

Magnesia

. Người

Anh

Joseph Black

nhận ra magie là một

nguyên tố

vào năm

1755

, Năm

1808

, Sir

Humphrey Davy

bằng điện phân đã cô lập được kim loại magie nguyên chất từ hỗn hợp của magnesia

HgO

. Năm

1831

,

A. A. B. Bussy

điều chế được nó trong dạng cố kết. Magie là nguyên tố phổ biến thứ 8 trong vỏ

Trái Đất

. Nó là một

kim loại kiềm thổ

, vì thế không tồn tại trong tự nhiên ở dạng đơn chất. Nó được tìm thấy trong các khoáng chất như

magnesit

,

dolomit

v.v.

Ứng dụng[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Nó được sử dụng để làm cho

hợp kim

nhẹ bền, đặc biệt là cho ngành công nghiệp hàng không vũ trụ, và cũng được sử dụng trong flashbulbs và

pháo hoa

bởi vì nó đốt cháy với một ngọn lửa trắng rực rỡ.

Các hợp chất của magie, chủ yếu là

magie oxit

, được sử dụng như là

vật liệu chịu lửa

trong các lò sản xuất

sắt

thép

, các kim loại màu,

thủy tinh

hay

xi măng

.

Magie oxit

và các hợp chất khác cũng được sử dụng trong

nông nghiệp

, công nghiệp hóa chất và xây dựng. Nó được sử dụng để tạo các hợp kim nhôm – magie dùng trong sản xuất vỏ đồ hộp, cũng như trong các thành phần cấu trúc của

ô tô

và máy móc. Ngoài ra magie kim loại còn được sử dụng để khử

lưu huỳnh

từ

sắt

hay

thép

.

Các công dụng khác:

  • Magie, giống như nhôm, là cứng và nhẹ, vì thế nó được sử dụng trong một số các thành phần cấu trúc của các loại xe tải và ô tô dung tích lớn. Đặc biệt, các bánh xe ô tô cấp cao được làm từ hợp kim magie được gọi là mag wheels (

    tiếng Anh

    , nghĩa là bánh xe magie).

  • Các tấm

    khắc quang học

    trong công nghiệp in.

  • Nằm trong hợp kim, nó là quan trọng cho các kết cấu

    máy bay

    tên lửa

    .

  • Khi pha thêm vào nhôm, nó cải thiện các tính chất cơ-lý, làm nhôm dễ hàn và dễ chế tạo hơn.
  • Là tác nhân bổ sung trong các chất nổ thông thường và sử dụng trong sản xuất gang cầu.
  • Là chất khử để sản xuất

    urani

    tinh khiết và các kim loại khác từ muối của chúng.

  • Magie hydroxit Mg(OH)2 được sử dụng trong

    sữa magie

    ,

    magie clorua

    magie sulfat

    trong các

    muối Epsom

    magie citrat

    được sử dụng trong y tế.

  • Magnesit quá nhiệt được sử dụng làm vật liệu chịu lửa như gạch.
  • Bột

    magie cacbonat

    (MgCO3) được sử dụng bởi các vận động viên điền kinh như các vận động viên

    thể dục dụng cụ

    cử tạ

    , để cải thiện khả năng nắm chặt dụng cụ.

  • Magie stearat

    chất bột

    màu trắng

    dễ cháy

    với các thuộc tính

    bôi trơn

    . Trong công nghệ

    dược phẩm

    nó được sử dụng trong sản xuất các viên thuốc nén, để ngăn cho các viên nén không bị dính vào thiết bị trong quá trình nén thuốc.

  • Các sử dụng khác bao gồm đèn flash trong

    nhiếp ảnh

    ,

    pháo hoa

    , bao gồm cả bom cháy.

Nguồn[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Kim loại này được sản xuất thông qua điện phân

magie clorua

nóng chảy, thu được từ các nguồn nước mặn, nước suối khoáng hay nước biển. Mặc dù magie được tìm thấy trong hơn 60 khoáng chất, nhưng chỉ có

dolomit

,

magnesit

,

bruxit

,

cacnalit

,

bột tan

, và

olivin

là có giá trị thương mại.

Cô lập:

  • catốt

    : Mg2+ + 2e → Mg

  • anốt

    : 2Cl → Cl2 (khí) + 2e

Xem thêm: Thinking about disability identity

Hợp chất trong cơ thể sống[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Magie hữu cơ là quan trọng cho cả thực vật và động vật.

Chất diệp lục

(Chlorophyll) là các

porphyrin

có magie ở trung tâm. Khẩu phần dinh dưỡng của người lớn là 300-400

mg

/ngày, phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính, trọng lượng. Nhiều loại

enzyme

cần có cation magie cho các phản ứng xúc tác của chúng, đặc biệt là các enzyme sử dụng

ATP

. Không đủ magie trong cơ thể sinh ra các chứng

co thắt

cơ, và nó liên quan đến các chứng bệnh tim mạch (cardiovascular),

tiểu đường

,

huyết áp cao

loãng xương

. Sự thiếu hụt cấp tính là hiếm hơn.

Các nguồn thức ăn[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Các loại

rau xanh

như rau

bi na

(spinach) cung cấp nhiều magie vì nguyên tử trung tâm của chất diệp lục là magie. Các loại quả hạch, hạt, một số ngũ cốc là nguồn cung cấp magie.

Việc ăn uống nhiều loại thức ăn khác nhau sẽ cung cấp tương đối đầy đủ magie cho cơ thể.

Magie trong các loại lương thực, thực phẩm chế biến quá kỹ thông thường bị mất nhiều magie. Ví dụ, bánh mì trắng thông thường có ít magie hơn bánh mì đen vì cám và phôi giàu magie đã bị loại bỏ khi làm trắng bột mì.

Nước

có thể cung cấp magie, nhưng lượng magie này thường nhỏ và dao động theo nguồn nước. Nước “cứng” chứa nhiều magie hơn nước “mềm”. Các nghiên cứu về dinh dưỡng không tính đến lượng magie này, và do vậy có thể dẫn đến việc tính không đầy đủ lượng magie cần thiết cho cơ thể.

Dưới đây là một số loại

thức ăn

và lượng magie chúng có:

  • Rau bi na (1/2 chén) = 80

    miligam

    (mg)

  • Dầu lạc (2 thìa chè) = 50 mg
  • Các loại đậu mắt đen (1/2 chén) = 45 mg
  • Sữa, ít béo (1 cup) = 40 mg

Đồng vị[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

24Mg là đồng vị ổn định có ứng dụng trong địa chất học, tương tự như 26Al.24Mg là sản phẩm phân rã của 26Al, có chu kỳ bán rã 717.000 năm. Sự giàu có của 24Mg ổn định được tìm thấy trong một số

thiên thạch

chonđrit cacbon

giàu Ca-Al. Sự phổ biến bất thường của 26Mg là do sự phân rã của 26Al trong các thiên thạch này. Vì thế, thiên thạch phải được tạo ra trong tinh vân trước khi 26Al phân rã. Vì điều này, các mảnh vỡ thiên thạch là những vật thể già nhất trong hệ Mặt Trời và chúng chứa thông tin về lịch sử của hệ Mặt Trời trong giai đoạn đầu tiên của nó.

Xem thêm: MỘT SỐ CÔNG ƯỚC-KHUYẾN NGHỊ CỦA ILO VỀ AN TOÀN-VỆ SINH LAO ĐỘNG

Cảnh báo[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Magie kim loại và hợp kim là rất dễ cháy trong dạng nguyên chất và dễ chảy khi ở dạng bột. Magie phản ứng và giải phóng nhiệt rất nhanh khi tiếp xúc với không khí hay

nước

và cát, Mg có tính khử rất mạnh, nên có thể “lấy Oxi” từ không những H2O, CO2, mà cả trong cát (SiO2)

2Mg + SiO2 —> 2MgO + Si. Cần phải đeo kính khi làm việc với magie. Ánh sáng trắng chói lòa của magie có thể làm tổn thương mắt. Không được dùng nước để dập ngọn lửa cháy do magie, vì nó làm ngọn lửa cháy to hơn, theo phản ứng sau:

Mg(rắn) + 2H2O(lỏng) → Mg(OH)2(dung dịch) + H2(khí)

Các bình cứu hỏa chứa điôxít cacbon CO2 cũng không được dùng do magie cháy trong

cacbon dioxit

. Phải dập lửa bằng các bình cứu hỏa bằng hóa chất khô cấp D (nếu có) hoặc dùng bột phủ vào để dập lửa do Magie gây nên

Mức cao nhất theo

DRI

để hấp thụ magie là 350 mg/ngày. Triệu chứng chung của thừa magie là

tiêu chảy

. Không được cấp cho trẻ em các loại hình thuốc chứa magie.

Liên kết ngoài[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • WebElements.com – Magnesium

  • EnvironmentalChemistry.com – Magnesium

  • Magnesium Deficiency

  • The Magnesium Website

  • Magnesium

  • Dietary Reference Intake

    Lưu trữ

    2008-05-27 tại

    Wayback Machine

  • Dietary Magnesium

    Lưu trữ

    2007-03-12 tại

    Wayback Machine

Chú thích[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  1. ^

    Bernath, P. F., Black, J. H., & Brault, J. W. (1985).

    “The spectrum of magnesium hydride”

    (PDF). Astrophysical Journal. 298: 375.

    Bản gốc

    (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2011.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (

    liên kết

    )

Lấy từ “

https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Magie&oldid=64480037

Chuyên mục: Kiến thức

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Check Also
Close
Back to top button