Kiến thức

Natri sunfat – Wikipedia tiếng Việt

Natri sunfat

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới điều hướng

Bước tới tìm kiếm

Natri sunfat

Sodium sulfate.jpg

Sodium sulfate.png

Tên khác

Thenardite

(khoáng vật)
muối Glauber (decahiđrat)
Sal mirabilis (decahiđrat)

Mirabilite

(decahiđrat)

Nhận dạng

Số CAS

7757-82-6

PubChem

24436

ChEBI

32149

Số RTECS

WE1650000

Mã ATC

A06

AD13

,

A12

CA02

Ảnh

Jmol

-3D

ảnh

SMILES

InChI

Thuộc tính

Công thức phân tử

Na2SO4

Khối lượng mol

142.04 g/mol (khan)
322.20 g/mol (đecahiđrat)
Bề ngoài tinh thể rắn màu trắng
hút ẩm
Mùi không mùi

Khối lượng riêng

2.664 g/cm3 (khan)
1.464 g/cm3 (đecahiđrat)

Điểm nóng chảy

884 °C (khan)
32.38 °C (decahiđrat)

Điểm sôi

1429 °C (khan)

Độ hòa tan

trong nước

khan:
4.76 g/100 mL (0 °C)
42.7 g/100 mL (100 °C)


heptahiđrat:
19.5 g/100 mL (0 °C)
44 g/100 mL (20 °C)

Độ hòa tan không tan trong

êtanol

tan trong

glyxerol

hiđro iođua

Chiết suất

(nD)

1.468 (khan)
1.394 (decahiđrat)
Cấu trúc

Cấu trúc tinh thể

trực thoi

hay

lục phương

(khan)

đơn tà

(decahiđrat)

Các nguy hiểm

MSDS

ICSC 0952

Chỉ mục EU không được liệt kê
Nguy hiểm chính gây kích ứng

NFPA 704

NFPA 704.svg

0
1
0
 

Điểm bắt lửa không cháy
Các hợp chất liên quan
Anion khác

Natri selenat

Natri tellurat

Cation khác

Liti sunfat

Kali sulfat

Rubiđi sunfat

Xesi sunfat

Hợp chất liên quan

Natri bisunfat

Natri sunfit

Natri persunfat

Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong

trạng thái tiêu chuẩn

của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).

☑Y 

kiểm chứng

 (

cái gì

 ☑YKhôngN ?)

Tham khảo hộp thông tin

Natri sunfat là muối

natri

của

acid sulfuric

. Khi ở dạng

khan

, nó là một tinh thể rắn màu trắng có công thức Na2SO4 được biết đến dưới tên khoáng vật

thenardite

; Na2SO4·10H2O được tìm thấy ngoài tự nhiên dưới dạng khoáng vật

mirabilite

, và trong sản xuất nó còn được gọi là muối Glauber hay mang tính lich sử hơn là sal mirabilis từ thế kỉ 17. Một dạng khác là tinh thể heptahiđrat được tách ra từ mirabilite khi làm lạnh. Với sản lượng sản xuất hàng năm lên đến 6 triệu

tấn

, nó là một

sản phẩm toàn cầu

quan trọng về hóa chất.

Natri sunfat được ứng dụng chủ yếu trong việc sản xuất

thuốc tẩy

và trong

phương pháp Kraft

để làm

bột giấy

. Khoảng 2/3 lượng natri sunfat của thế giới là từ

mirabilite

, dạng

khoáng vật

tự nhiên của muối đecahiđrat, và phần còn lại là từ phụ phẩm của các

ngành công nghiệp hóa chất

khác như sản xuất

axit clohydric

.

Lịch sử[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Muối natri sunfat ngậm nước được biết dưới tên muối Glauber sau khi nhà hóa học và bào chế người

Đức

/

Hà Lan

Johann Rudolf Glauber

(1604–1670) tìm ra nó vào năm 1625 trong nước của một con suối tại

Áo

. Ông đặt tên nó là sal mirabilis (muối kì lạ), vì những đặc tính y khoa của loại muối này: những tinh thể muối đã được dùng để làm

thuốc nhuận tràng

cho đến khi có những chất thay thế phức tạp hơn ra đời vào những năm 1900.

[1]

[2]

Vào

thế kỉ 18

, muối Glauber bắt đầu được dùng làm vật liệu thô cho quá trình sản xuất

soda

trong công nghiệp, khi phản ứng với

kali cacbonat

. Nhu cầu gia tăng nên nguồn cung natri sunfat cũng phải tăng lên tương ứng. Do đó, vào thế kỉ 19,

quá trình Leblanc

quy mô lớn, sản xuất natri sunfat tổng hợp như là một chất trung quan chủ yếu, trở thành phương pháp chính trong sản xuất soda.

[3]

Xem thêm: Những chú ý khi sử dụng giới từ in, on, at trong tiếng Anh

Đặc tính hóa học và vật lý[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Natri sunfat rất bền về mặt hóa học, không tương tác với hầu hết các chất oxi hóa-khử ở điều kiện thường. Ở nhiệt độ cao, nó có thể bị khử thành

natri sunfit

bởi

cacbon

:

[4]

Na2SO4 + 2 C → Na2S + 2 CO2

Tính axit-bazơ[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Natri sunfat là muối

trung hòa

, khi tan trong nước tạo thành dung dịch có pH = 7. Tính trung hòa chứng tỏ gốc sunfat bắt nguồn từ một axit mạnh

acid sulfuric

. Hơn nữa, ion Na+, với chỉ một điện tích dương, có khả năng phân cực các phối tử nước của nó rất yếu miễn là có ion kim loại trong dung dịch. Natri sunfat phản ứng với axit sunfuric tạo muối axit

natri bisunfat

:

[5]

[6]

Na2SO4 + H2SO4 ⇌ 2 NaHSO4

Hằng số cân bằng

của quá trình trên phụ thuộc vào

nồng độ

nhiệt độ

.

Độ tan và sự trao đổi ion[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Natri sunfat có tính tan rất bất thường trong nước.

[7]

Độ tan của nó trong nước tăng gấp hơn mười lần trong khoảng 0 °C đến 32.384 °C, điểm mà độ tan đạt giá trị cực đại 497 g/L. Tại điểm này đường biểu diễn độ tan uốn cong hướng xuống, và độ tan trở nên không phụ thuộc vào nhệt độ. Nhiệt độ 32.384 °C, tương ứng với nhiệt độ làm giải phóng nước ra khỏi tinh thể và tan chảy muối ngậm nước, cung cấp giá trị nhiệt độ tham khảo chính xác cho việc định chuẩn

nhiệt kế

.

Natri sunfat là muối

ion

điển hình, chứa các ion Na+ và SO42−. Sự có mặt của sunfat trong dung dịch được nhận biết dễ dàng bằng cách tạo ra các sunfat không tan khi xử lý các dung dịch này với muối

Ba2+

hay

Pb2+

:

Na2SO4 + BaCl2 → 2 NaCl + BaSO4↓ sản phẩm

Biểu đồ biểu diễn độ tan của Na2SO4 theo nhiệt độ

Natri sunfat còn biểu hiện xu hướng tạo

muối kép

ở mức vừa phải. Các loại phèn duy nhất được tạo ra với các kim loại hóa trị ba thông thường là NaAl(SO4)2 (không bền ở trên 39 °C) và NaCr(SO4)2, đối nghịch với

kali sulfat

amoni sunfat

tạo được nhiều loại phèn bền.

[8]

Những muối kép với một vài kim loại kiềm khác được biết gồm Na2SO4·3K2SO4, muối này có trong tự nhiên dưới dạng khoáng vật

glaserit

. Sự hình thành glaserit bằng phản ứng giữa natri sunfat và

kali clorua

được dùng làm cơ sở của một phương pháp sản xuất

kali sulfat

, một loại

phân bón

.

[9]

Các muối kép khác bao gồm 3Na2SO4·CaSO4, 3Na2SO4·MgSO4 (

vanthoffite

) và NaF·Na2SO4.

[10]

Cấu trúc tinh thể[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Các tinh thể chứa ion [Na(OH2)6]+ dạng

bát diện

, được tìm thấy trong nhiều muối sunfat kim loại. Những cation này được liên kết với gốc sunfat thông qua

liên kết hiđrô

. Độ dài liên kết Na-O là 240

pm

. Hai phân tử nước của mỗi đơn vị công thức phân tử không tạo phối trí với Na+.

[11]

Tinh thể natri sunfat đecahiđrat còn bất thường so với các loại muối ngậm nước khác khi có giá trị

entropy

dư thừa (entropy ở

nhiệt độ không tuyệt đối

) là 6.32 J·K−1·mol−1. Điều này được cho là do khả năng phân bố nước nhanh hơn rất nhiều so với hầu hết các muối khác.

[12]

Sản xuất[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Sản lượng natri sunfat của thế giới phần lớn là ở dạng đecahiđrat xấp xỉ đạt 5.5 đến 6 triện tấn hàng năm. Năm 1985, sản lượng là 4.5 triệu tấn/năm, một nửa trong đó là từ các nguồn tự nhiên và một nửa là từ công nghiệp xản xuất hóa chất. Sau năm 2000, ở mức độ bền vững cho đến năm 2006, sản xuất từ nguồn tự nhiên tăng lên 4 triệu tấn/năm, và lượng sản xuất từ công nghiệp hóa chất giảm xuống 1.5 đến 2 triệu tấn/năm, với tổng sản lượng là 5.5 đến 6 triệu tấn/năm.

[13]

[14]

[15]

[16]

Với tất cả các ứng dụng, trên thực tế, natri sunfat sản xuất trong tự nhiên và trong công nghiệp hóa chất có thể thay thế cho nhau.

Nguồn tự nhiên[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

2/3 sản lượng trên thế giới là nguồn khoáng vật thiên nhiên

mirabilite

, ví dụ như mẫu khoáng vật tìm thấy ở đáy hồ ở phía nam

Saskatchewan

. Năm 1990,

México

Tây Ban Nha

là nguồn cung cấp natri sunfat thiên nhiên lớn của thế giới (mỗi nước khoảng 500,000 

tấn

), ngoài ra còn có

Nga

,

Hoa Kỳ

Canada

với khoảng 350,000 tấn mỗi quốc gia.

[14]

Nguồn tự nhiên được ước tính vào khoảng hơn 1 tỉ tấn.

[13]

[14]

Các nhà sản xuất lớn từ 200,000 to 1,500,000 tấn/năm vào năm 2006 gồm

Searles Valley Minerals

(California, Mỹ), Airborne Industrial Minerals (Saskatchewan, Canada),

Química del Rey

(Coahuila, Mexico), Minera de Santa Marta and Criaderos Minerales Y Derivados, còn được biết là

Grupo Crimidesa

(Burgos, Tây Ban Nha), Minera de Santa Marta (Toledo, Tây Ban Nha), Sulquisa (Madrid, Tây Ban Nha), và ở Trung Quốc là Chengdu Sanlian Tianquan Chemical (Tứ Xuyên), Hongze Yinzhu Chemical Group (Giang Tô), Nafine Chemical Industry Group (Sơn Tây), and Sichuan Province Chuanmei Mirabilite (Tứ Xuyên), và Kuchuksulphat JSC (Altai Krai, Siberia, Nga).

[13]

[15]

Ở Saskatchewan, một trong những mỏ chính là

Saskatchewan Minerals

.

Muối natri sunfat khan có mặt ở nhũng nơi khô khan dưới dạng khoáng vật

thenardite

. Nó chuyển sang mirabilite dần dần trong không khí ẩm. Nó còn được tìm thấy ở dạng

glauberite

, một khoáng vật canxi natri sunfat. Cả hai khoáng vật kể trên đều ít phổ biến hơn so với mirabilite.

Công nghiệp hóa chất[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Khoảng 1/3 lượng natri sunfat còn lại được sản xuất là từ phụ phẩm của các quá trình khác trong công nghiệp hóa học. Phần lớn chúng về mặt hóa học là vốn có của các quá trình ban đầu, và chỉ mang tính kinh tế bên lề. Vì thế, bằng kết quả đạt được của ngành công nghiệp, lượng natri sunfat sản xuất từ phụ phẩm như này đang giảm dần.

Phần lớn natri sunfat thu được là trong quá trình sản xuất

acid clohydric

, từ

natri clorua

(muối ăn) và

acid sulfuric

, trong

quá trình Mannheim

, hay từ

lưu huỳnh điôxit

trong

quá trình Hargreaves

.

[17]

[18]

Natri sunfat thu được từ 2 quá trình trên được gọi là bánh muối.

Mannheim: 2 NaCl + H2SO4 → 2 HCl + Na2SO4
Hargreaves: 4 NaCl + 2 SO2 + O2 + 2 H2O → 4 HCl + 2 Na2SO4

Nguồn natri sunfat sản xuất lớn thứ hai là từ quá trình mà axit sunfuric được trung hòa bởi

natri hiđroxit

, được áp dụng quy mô lớn trong sản xuất

tơ nhân tạo

. Phương pháp này còn là phương pháp điều chế trong phòng thí nghiệm tiện lợi và áp dụng rộng rãi.

2 NaOH(

aq

) + H2SO4(aq) → Na2SO4(aq) + 2 H2O(

l

)

Trong phòng thí nghiệm nó còn được tổng hợp từ phản ứng giữa

natri bicacbonat

magie sunfat

.

2NaHCO3 + MgSO4 → Na2SO4 + Mg(OH)2 + 2CO2

Trước đây, natri sunfat còn là phụ phẩm của quá trình sản xuất

natri đicromat

, khi đó axit sunfuric được cho vào natri cromat để tạo natri đicromat hay sau đó là axit cromic. Ngoài ra natri sunfat còn được tạo ra từ các quá trình sản xuất Natri sunfat hoặc được hình thành trong sản xuất

liti cacbonat

,

chất tạo phức

,

resorcinol

,

axit ascorbic

, chất tạo màu

silica

,

axit nitric

, và

phenol

.

[13]

Natri sunfat dạng khối thường được tinh chế thông qua dạng đecahiđrat, vì dạng khan có khuynh hướng thu hút các hợp chất hữu cơ và các hợp chất chứa

sắt

. Dạng khan được điều chế dễ dàng từ dạng ngậm nước bằng cách làm nóng nhẹ.

Những nhà sản xuất natri sunfat dạng phụ phẩm chính vào khoảng 50–80 triệu tấn/năm năm 2006 gồm Elementis Chromium (công nghiệp sản xuất crom, Castle Hayne, Nam Carolina, Mỹ), Lenzing AG (200 triệu tấn/năm, công nghiệp sản xuất tơ nhân tạo, Lenzing, Áo), Addiseo (Rhodia cũ, công nghiệp sản xuất methionin, Les Roches-Roussillon, Pháp), Elementis (công nghiệp sản xuất crom, Stockton-on-Tees, Mỹ), Shikoku Chemicals (Tokushima, Nhật Bản) và Visko-R (công nghiệp sản xuất tơ nhân tạo, Nga).

[13]

Xem thêm: Bài tập chứng minh đẳng thức vectơ, phân tích vectơ-Toán cấp 2

Ứng dụng[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Tập tin:Sulfate clump.ogv

Phát phương tiện

Natri sunfat từng dùng để làm khô các chất lỏng hữu cơ. Như ở đây dạng vón cục được tạo ra, chứng tỏ có sự tồn tại của nước trong chất lỏng hữu cơ.

Tập tin:Sulfate noclump.ogv

Phát phương tiện

Xa hơn nữa, chất lỏng có thể được làm khô ráo khi hình thành dạng vón cục.

Công nghiệp hàng hóa toàn cầu[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Với giá cả ở Mỹ là 30 USD/tấn năm 1970, 6 đến 90 USD/tấn cho chất lượng bánh muối và 130 USD/tấn cho cấp cao hơn, natri sunfat là một vật liệu rất rẻ tiền. Ứng dụng rộng rãi nhất là làm chất độn trong các loại thuốc tẩy quần áo tại nhà dạng bột, chiếm khoảng 50% lượng sản phẩm làm ra. Ứng dụng này đang giảm đi vì người tiêu dùng nội địa đang chuyển hướng nhanh chóng sang loại chất tẩy dạng lỏng hay dạng rắn không chứa natri sunfat.

[13]

Một ứng dụng khác trước đây của natri sunfat, đặc biệt ở Mỹ và Canada, lad trong

quá trình Kraft

để sản xuất

bột giấy

. Các chất hữu cơ có mặt trong “nước đen” thải ra từ quá trình này được đốt để tạo nhiệt, cần chuyển hóa natri sunfat thành natri sunfit. Tuy vậy, quá trình này đang được thay thế bằng các phương pháp mới hơn; việc sử dụng natri sunfat trong công nghiệp sản xuất bột giấy tại Mỹ và Canada giảm xuống từ 1.4 triệu tấn/năm năm 1970 còn chỉ vào khoảng 150,000 tấn năm 2006.

[13]

Công nghiệp sản xuất

thủy tinh

cung cấp một ứng dụng đáng kể khác của natri sunfat, là ứng dụng nhiều thứ hai ở châu Âu. Natri sunfat được dùng làm chất làm sạch giúp loại bỏ các bọt khí nhỏ ra khỏi thủy tinh nóng chảy, và ngăn ngừa quá trình tạo bọt của thủy tinh nóng chảy trong khi tinh chế. Công nghiệp sản xuất thủy tinh ở châu Âu tiêu thụ khoảng 110,000 tấn mỗi năm trong giai đoạn 1970-2006.

[13]

Natri sunfat có vai trò quan trọng trong sản xuất

vải

, nhất là ở Nhật Bản, nơi nó được ứng dụng nhiều nhất. Natri sunfat giúp làm bằng phẳng, loại bỏ các điện tích âm trên sợi vải để thuốc nhuộm có thể thấm sâu hơn. Khác với

natri clorua

, nó không ăn mòn các bình nhuộm bằng

thép không gỉ

. Ứng dụng này ở Mỹ và Nhật Bản tiêu thụ khoảng 100,000 tấn năm 2006.

[13]

Trữ nhiệt[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Dung lượng trữ nhiệt cao khi chuyển pha từ rắn sang lỏng, và nhiệt độ chuyển pha thuận lợi 32 °C (90 °F) làm cho vật liệu này đặc biệt phù hợp cho việc tích trữ nhiệt mặt trời mức thấp để sau đó giải phóng ra trong ứng dụng nhiệt trong không gian. Trong một vài ứng dụng vật liệu này còn được sáp lại thành các tấm ngói nhiệt đặt trong vùng gác thượng trong khi một số khác thì sáp lại thành các tấm pin bao quanh bởi nước đun nóng bằng mặt trời. Sự chuyển pha cho phép giảm khối lượng vật liệu thực tế để trữ nhiệt có hiệu quả (nhiệt nóng chảy của natri sunfat đecahiđrat là 25.53 kJ/mol hay 252 kJ/kg

[19]

), với sự thuận lợi hơn nữa từ tính đồng bộ của nhiệt độ miễn là có đầy đủ vật liệu trong pha thích hợp.

Với ứng dụng làm mát, một hỗn hợp tạo với muối ăn

natri clorua

thông thường cũng làm giảm nhiệt độ nóng chảy xuống 18 °C (64 °F). Nhiệt nóng chảy của NaCl.Na2SO4·10H2O, tăng nhẹ lên thành 286 kJ/kg.

[20]

Ứng dụng quy mô nhỏ[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Trong phòng thí nghiệm, natri sunfat khan được sử dụng rộng rãi như một

chất làm khô

trơ, loại bỏ dấu vết của nước ra khỏi các chất lỏng hữu cơ.

[21]

Nó hiệu quả hơn nhưng hoạt động chậm hơn so với tác nhân tương tự

magie sulfat

. Nó chỉ có tác dụng ở nhiệt độ dưới 30 °C, nhưng nó có thể dùng với nhiều loại chất liệu vì tính trơ hóa học của nó. Natri sunfat được thêm vào dung dịch cho đến khi các tinh thể không còn vón cục nữa; hai video clip (xem trên) giải thích rõ cách các tinh thể vón cục khi bị ẩm, nhưng một vài tinh thể trôi tự do một khi mẫu chất được làm khô hoàn toàn.

Muối Glauber, đecahiđrat, đã từng được dùng làm

thuốc nhuận tràng

. Nó có hiệu quả trong việc loại bỏ các loại thuốc ví dụ như

acetaminophen

ra khỏi cơ thể, sau khi dùng quá liều.

[22]

[23]

Năm 1953, natri sunfat được đề xuất để trữ nhiệt trong các hệ thống nhiệt mặt trời thụ động. Điều này dựa vào ưu điểm của đặc tính tan bất thường của nó, và nhiệt kết tinh cao(78.2 kJ/mol).

[24]

Các ứng dụng khác bao gồm phá băng cửa kính, trong chất làm thơm thảm, sản xuất bột hồ, và chất phụ gia trong thức ăn gia súc.

Gần đây, natri sunfat được tìm thấy có hiệu quả trong việc hòa tan vàng được mạ trong các sản phẩm máy tính có chứa phần cứng mạ vàng như pin, và các đầu nối và bộ chuyển mạch khác. Nó an toàn hơn, rẻ hơn so với các thuốc thử dùng trong tái tạo vàng, với rất ít lo lắng về phản ứng phụ hay ảnh hưởng sức khỏe.

Ít nhất có một công ty, ThermalTake, làm tấm tản nhiệt cho laptop (iXoft Notebook Cooler) sử dụng natri sunfat đecahiđrat nằm bên trong tấm nhựa. Vật liệu chuyển từ từ sang thể lỏng và xoay vòng, giúp cân bằng nhiệt độ laptop và hoạt động như vật cô lập.

An toàn[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Mặc dù natri sunfat nói chung được xem là không độc,

[25]

nên sử dụng nó với sự cẩn trọng. Bụi có thể gây ra hen suyễn tam thời hay kích ứng mắt; nguy cơ này có thể ngăn ngừa khi dùng bảo hộ mắt và mặt nạ giấy. Vận chuyển không hạn chế, và không có

nhóm từ nguy hại

hay

nhóm từ an toàn

nào được dùng.

[26]

Xem thêm: Khác nhau giữa Active voice và Passive voice

Chú thích[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  1. ^

    Szydlo, Zbigniew

    (1994). Water which does not wet hands: The Alchemy of Michael Sendivogius. London-Warsaw: Polish Academy of Sciences.

  2. ^

    Westfall, Richard S. (1995).

    “Glauber, Johann Rudolf”

    . The Galileo Project.

  3. ^

    Aftalion, Fred (1991). A History of the International Chemical Industry. Philadelphia: University of Pennsylvania Press. tr. 11–16.

    ISBN

     

    0-8122-1297-5

    .

  4. ^

    Handbook of Chemistry and Physics (ấn bản 71).

    Ann Arbor

    ,

    Michigan

    :

    CRC Press

    . 1990.

  5. ^

    The Merck Index

    (ấn bản 7). Rahway, New Jersey, US:

    Merck & Co.

    1960.

  6. ^

    Nechamkin, Howard (1968).

    The Chemistry of the Elements

    . New York:

    McGraw-Hill

    .

  7. ^

    W.F. Linke & A. Seidell (1965). Solubilities of Inorganic and Metal Organic Compounds (ấn bản 4). Van Nostrand.

    ISBN

     

    0-8412-0097-1

    .Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (

    liên kết

    )

  8. ^

    Henry Lipson & C.A. Beevers (1935). “The Crystal Structure of the Alums”.

    Proceedings of the Royal Society A

    . 148 (865): 664–80.

    doi

    :

    10.1098/rspa.1935.0040

    .Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (

    liên kết

    )

  9. ^

    Garrett, Donald E. (2001). Sodium sulfate: handbook of deposits, processing, properties, and use. San Diego: Academic Press.

    ISBN

     

    978-0-12-276151-5

    .

  10. ^

    Mellor, Joseph William (1961). Mellor’s Comprehensive Treatise on Inorganic and Theoretical Chemistry. Volume II . London: Longmans. tr. 656–673.

    ISBN

     

    0-582-46277-0

    .

  11. ^

    Helena W. Ruben, David H. Templeton, Robert D. Rosenstein, Ivar Olovsson “Crystal Structure and Entropy of Sodium Sulfate Decahydrate” J. Am. Chem. Soc. 1961, volume 83, pp 820–824.

    doi

    :

    10.1021/ja01465a019

  12. ^

    G. Brodale & W.F. Giauque (1958). “The Heat of Hydration of Sodium Sulfate. Low Temperature Heat Capacity and Entropy of Sodium Sulfate Decahydrate”.

    Journal of the American Chemical Society

    . 80 (9): 2042–2044.

    doi

    :

    10.1021/ja01542a003

    .Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (

    liên kết

    )

  13. ^

    a

    ă

    â

    b

    c

    d

    đ

    e

    ê

    Bala Suresh & Kazuteru Yokose (2006).

    Sodium sulfate

    . CEH Marketing Research Report. Zurich: Chemical Economic Handbook SRI Consulting. tr. 771.1000A–771.1002J. Đã bỏ qua tham số không rõ |month= (

    trợ giúp

    )Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (

    liên kết

    )

  14. ^

    a

    ă

    â

    “Statistical compendium Sodium sulfate”

    . Reston, Virginia:

    US Geological Survey

    , Minerals Information. 1997. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2007.

  15. ^

    a

    ă

    The economics of sodium sulphate . London: Roskill Information Services. 1999.

  16. ^

    The sodium sulphate business. London: Chem Systems International. 1984. Đã bỏ qua tham số không rõ |month= (

    trợ giúp

    )

  17. ^

    Butts, D. (1997). Kirk-Othmer Encyclopedia of Chemical Technology. v22 (ấn bản 4). tr. 403–411.

  18. ^

    Hargreaves, J. (1873). Chem. News. 27: 183. |title= trống hay bị thiếu (

    trợ giúp

    )

  19. ^

    http://www.eng.mie-u.ac.jp/research/activities/29/29_31.pdf

  20. ^

    http://www.eng.mie-u.ac.jp/research/activities/29/29_31.pdf

    p.8

  21. ^

    Arthur I. Vogel & B.V. Smith, N.M. Waldron (1980). Vogel’s Elementary Practical Organic Chemistry 1 Preparations (ấn bản 3). London:

    Longman

    Scientific & Technical.Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (

    liên kết

    )

  22. ^

    D.M. Cocchetto & G. Levy (1981). “Absorption of orally administered sodium sulfate in humans”. J Pharm Sci. 70 (3): 331–3.

    doi

    :

    10.1002/jps.2600700330

    .

    PMID

     

    7264905

    .Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (

    liên kết

    )

  23. ^

    L.F. Prescott & J.A.J.H. Critchley (1979). “The Treatment of Acetaminophen Poisoning”. Annual Review of Pharmacology and Toxicology. 23: 87–101.

    doi

    :

    10.1146/annurev.pa.23.040183.000511

    .

    PMID

     

    6347057

    .Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (

    liên kết

    )

  24. ^

    Telkes, Maria (1953).

    Improvements in or relating to a device and a composition of matter for the storage of heat

    . British Patent No. GB694553.

  25. ^

    “Sodium sulfate (WHO Food Additives Series 44)”

    .

    World Health Organization

    . 2000. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2007.

  26. ^

    “MSDS Sodium Sulfate Anhydrous”

    . James T Baker. 2006. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2007.

Liên kết ngoài[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Calculators:

    surface tensions

    , and

    densities, molarities and molalities

    of aqueous sodium sulphate

Lấy từ “

https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Natri_sunfat&oldid=64545231

Chuyên mục: Kiến thức

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Check Also
Close
Back to top button