Kiến thức

Phốtpho – Wikipedia tiếng Việt

Phốtpho

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới điều hướng

Bước tới tìm kiếm

Phốt pho,  15P

PhosphComby.jpg

Phosphorus spectrum visible.png

Quang phổ vạch

của Photpho

Tính chất chung
Tên,

ký hiệu

Phốt pho, P
Phiên âm

/ˈfɒsfərəs/

FOS-fər-əs

Hình dạng Không màu, trắng sáp, đỏ tươi hơi vàng, đỏ, tím, đen
Phốt pho trong

bảng tuần hoàn

Hiđrô (diatomic nonmetal)

Hêli (noble gas)

Liti (alkali metal)

Berili (alkaline earth metal)

Bo (metalloid)

Cacbon (polyatomic nonmetal)

Nitơ (diatomic nonmetal)

Ôxy (diatomic nonmetal)

Flo (diatomic nonmetal)

Neon (noble gas)

Natri (alkali metal)

Magiê (alkaline earth metal)

Nhôm (post-transition metal)

Silic (metalloid)

Phốtpho (polyatomic nonmetal)

Lưu huỳnh (polyatomic nonmetal)

Clo (diatomic nonmetal)

Argon (noble gas)

Kali (alkali metal)

Canxi (alkaline earth metal)

Scandi (transition metal)

Titan (transition metal)

Vanadi (transition metal)

Chrom (transition metal)

Mangan (transition metal)

Sắt (transition metal)

Coban (transition metal)

Niken (transition metal)

Đồng (transition metal)

Kẽm (transition metal)

Gali (post-transition metal)

Gecmani (metalloid)

Asen (metalloid)

Selen (polyatomic nonmetal)

Brom (diatomic nonmetal)

Krypton (noble gas)

Rubidi (alkali metal)

Stronti (alkaline earth metal)

Yttri (transition metal)

Zirconi (transition metal)

Niobi (transition metal)

Molypden (transition metal)

Tecneti (transition metal)

Rutheni (transition metal)

Rhodi (transition metal)

Paladi (transition metal)

Bạc (transition metal)

Cadimi (transition metal)

Indi (post-transition metal)

Thiếc (post-transition metal)

Antimon (metalloid)

Telua (metalloid)

Iốt (diatomic nonmetal)

Xenon (noble gas)

Xêsi (alkali metal)

Bari (alkaline earth metal)

Lantan (lanthanide)

Xeri (lanthanide)

Praseodymi (lanthanide)

Neodymi (lanthanide)

Promethi (lanthanide)

Samari (lanthanide)

Europi (lanthanide)

Gadolini (lanthanide)

Terbi (lanthanide)

Dysprosi (lanthanide)

Holmi (lanthanide)

Erbi (lanthanide)

Thuli (lanthanide)

Ytterbi (lanthanide)

Luteti (lanthanide)

Hafni (transition metal)

Tantan (transition metal)

Wolfram (transition metal)

Rheni (transition metal)

Osmi (transition metal)

Iridi (transition metal)

Platin (transition metal)

Vàng (transition metal)

Thuỷ ngân (transition metal)

Tali (post-transition metal)

Chì (post-transition metal)

Bitmut (post-transition metal)

Poloni (post-transition metal)

Astatin (metalloid)

Radon (noble gas)

Franxi (alkali metal)

Radi (alkaline earth metal)

Actini (actinide)

Thori (actinide)

Protactini (actinide)

Urani (actinide)

Neptuni (actinide)

Plutoni (actinide)

Americi (actinide)

Curi (actinide)

Berkeli (actinide)

Californi (actinide)

Einsteini (actinide)

Fermi (actinide)

Mendelevi (actinide)

Nobeli (actinide)

Lawrenci (actinide)

Rutherfordi (transition metal)

Dubni (transition metal)

Seaborgi (transition metal)

Bohri (transition metal)

Hassi (transition metal)

Meitneri (unknown chemical properties)

Darmstadti (unknown chemical properties)

Roentgeni (unknown chemical properties)

Copernixi (transition metal)

Nihoni (unknown chemical properties)

Flerovi (post-transition metal)

Moscovi (unknown chemical properties)

Livermori (unknown chemical properties)

Tennessine (unknown chemical properties)

Oganesson (unknown chemical properties)

N


P

As

Silic

Phốt pho

Lưu huỳnh

Số nguyên tử

(Z)

15

Khối lượng nguyên tử chuẩn

 (±) (Ar)

30.973762(2)

Phân loại

 

phi kim

Nhóm

,

phân lớp

15

p

Chu kỳ

Chu kỳ 3

Cấu hình electron

[

Ne

] 3s2 3p3

mỗi lớp
2, 8, 5
Tính chất vật lý

Màu sắc

Không màu, trắng sáp, đỏ tươi hơi vàng, đỏ, tím, đen

Mật độ

(trắng) 1,823; (đỏ) ≈ 2,2 – 2,34; (tím) 2,36; (đen) 2,69 g·cm−3 (ở 0 °C, 101.325 

kPa

)

Điểm ba

(đỏ) 862,7 K, 4367 kPa

Nhiệt lượng nóng chảy

(trắng) 0,66 

kJ·mol−1

Nhiệt bay hơi

(trắng) 12,4 kJ·mol−1

Nhiệt dung

(trắng)
23,824 J·mol−1·K−1

Áp suất hơi

(trắng)

P (Pa) 1 10 100 1 k 10 k 100 k
ở T (K) 279 307 342 388 453 549

 pressure

Bản mẫu:Infobox element/vapor pressure table

Tính chất nguyên tử

Trạng thái ôxy hóa

5, 4, 3, 2

[1]

, 1

[2]

, -1, -2, -3 ​

Axít

nhẹ

Độ âm điện

2.19 (Thang Pauling)

Năng lượng ion hóa

Thứ nhất: 1011,8 kJ·mol−1
Thứ hai: 1907 kJ·mol−1
Thứ ba: 2914,1 kJ·mol−1

Bán kính liên kết cộng hóa trị

107±3

 

pm

Bán kính van der Waals

180

 pm

Thông tin khác

Độ dẫn nhiệt

(trắng) 0,236; (đen) 12.1 W·m−1·K−1

Tính chất từ

(trắng, đỏ, tím, đen)

Nghịch từ

[3]

Mô đun nén

(trắng) 5, (đỏ) 11 GPa

Số đăng ký CAS

7723-14-0
Đồng vị ổn định nhất
Bài chính:

Đồng vị của Phốt pho

iso

NA

Chu kỳ bán rã

DM

DE

 (

MeV

)

DP

31P 100% 31P ổn định với 16

neutron

32P

Tổng hợp

14,28

ngày

β

1.709 32

S

33P

Tổng hợp

25,3

ngày

β

0.249 33

S

Phốtpho, (từ

tiếng Hy Lạp

: phôs có nghĩa là “ánh sáng” và phoros nghĩa là “người/vật mang”), danh pháp theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN: Phosphor

[4]

, là một

nguyên tố hóa học

trong

bảng tuần hoàn

có ký hiệu P

số nguyên tử

15. Là một phi kim đa hóa trị trong

nhóm nitơ

, phốtpho chủ yếu được tìm thấy trong các loại đá phốtphat vô cơ và trong các cơ thể sống. Do độ hoạt động hóa học cao, không bao giờ người ta tìm thấy nó ở dạng đơn chất trong tự nhiên. Nó phát xạ ra

ánh sáng

nhạt khi bị phơi ra trước

ôxy

(vì thế có tên gọi của nó trong

tiếng Latinh

để chỉ “

ngôi sao buổi sáng

“, từ

tiếng Hy Lạp

có nghĩa là “ánh sáng” và “mang”), và xuất hiện dưới một số dạng

thù hình

. Nó cũng là nguyên tố thiết yếu cho các cơ thể sống. Sử dụng quan trọng nhất trong thương mại của nó là để sản xuất

phân bón

. Nó cũng được sử dụng rộng rãi trong các loại

vật liệu nổ

,

diêm

,

pháo hoa

,

thuốc trừ sâu

,

kem đánh răng

chất tẩy rửa

.

Các đặc trưng nổi bật[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Dạng phổ biến của phốtpho là chất rắn dạng sáp có màu trắng có mùi đặc trưng khó ngửi tương tự như

tỏi

. Dạng tinh khiết của nó là không màu và trong suốt. Phi kim này không hòa tan trong

nước

nhưng hòa tan trong

đisulfua cacbon

. Phốtpho tinh khiết bắt cháy ngay trong

không khí

và tạo ra khói trắng chứa

điphốtpho pentaôxít

P2O5.

Thù hình[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Phốtpho tồn tại dưới ba dạng thù hình cơ bản có màu: trắng, đỏ và đen. Các dạng thù hình khác cũng có thể tồn tại. Phổ biến nhất là

phốt pho trắng

phốt pho đỏ

, cả hai đều chứa các mạng gồm các nhóm phân bổ kiểu tứ diện gồm 4 nguyên tử phốtpho. Các tứ diện của

phốt pho trắng

tạo thành các nhóm riêng; các tứ diện của phốtpho đỏ liên kết với nhau thành chuỗi. Phốtpho trắng cháy khi tiếp xúc với không khí hay khi bị tiếp xúc với nguồn nhiệt và ánh sáng.

Phốtpho cũng tồn tại trong các dạng ưa thích về mặt động học và

nhiệt động lực học

. Chúng được tách ra ở nhiệt độ chuyển tiếp -3,8 °C. Một dạng gọi là dạng “

alpha

“, dạng kia gọi là “

beta

“. Phốtpho đỏ là tương đối ổn định và thăng hoa ở áp suất 1 atm và 170 °C nhưng cháy do va chạm hay nhiệt do ma sát. Thù hình phốtpho đen tồn tại và có cấu trúc tương tự như

graphit

– các nguyên tử được sắp xếp trong các lớp theo tấm lục giác và có

tính dẫn điện

.

Xem thêm: Nghiên cứu chế tạo và phát triển ứng dụng phổ kế huỳnh quang tia X tại Việt Nam

Ứng dụng[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Axít phốtphoric đậm đặc, có thể chứa tới 70% – 75% P2O5 là rất quan trọng đối với ngành

nông nghiệp

do nó được dùng để sản xuất phân bón. Nhu cầu toàn cầu về phân bón đã dẫn tới sự tăng trưởng đáng kể trong sản xuất phốtphat (PO43-) trong nửa sau của

thế kỷ XX

. Các sử dụng khác còn có:

  • Các phốtphat được dùng trong sản xuất các loại

    thủy tinh

    đặc biệt được sử dụng trong các loại

    đèn hơi natri

    .

  • Tro xương,

    phốtphat canxi

    , được sử dụng trong sản xuất đồ

    sứ

    .

  • Tripolyphốtphat natri

    được sản xuất từ axít phốphoric được sử dụng trong

    bột giặt

    ở một số quốc gia, nhưng lại bị cấm ở một số quốc gia khác.

  • Axít phốtphoric

    được sản xuất từ phốtpho nguyên tố được sử dụng trong các ứng dụng như các đồ uống chứa

    sôđa

    . Axít này cũng là điểm khởi đầu để chế tạo các phốtphat cấp thực phẩm. Các hóa chất này bao gồm

    phốtphat mônôcanxi

    được dùng trong

    bột nở

    tripolyphốtphat natri

    và các phốtphat khác của natri. Trong số các ứng dụng khác, các hóa chất này được dùng để cải thiện các đặc trưng của thịt hay

    pho mát

    đã chế biến. Người ta còn dùng nó trong thuốc đánh răng.

    Phốtphat trinatri

    được dùng trong các chất làm sạch để làm mềm nước và chống ăn mòn cho các đường ống/nồi hơi.

  • Phốtpho được sử dụng rộng rãi để sản xuất các hợp chất hữu cơ chứa phốtpho, thôngqua các chất trung gian như

    clorua phốtpho

    sulfua phốtpho

    . Các chất này có nhiều ứng dụng, bao gồm các chất làm dẻo, các chất làm chậm cháy,

    thuốc trừ sâu

    , các chất chiết và các chất xử lý

    nước

    .

  • Nguyên tố này cũng là thành phần quan trọng trong sản xuất

    thép

    , trong sản xuất

    đồng thau

    chứa phốtpho và trong nhiều sản phẩm liên quan khác.

  • Phốtpho trắng được sử dụng trong các ứng dụng

    quân sự

    như

    bom lửa

    , tạo ra các màn khói như trong các bình khói và

    bom khói

    , và trong

    đạn lửa

    .

  • Phốtpho đỏ được sử dụng để sản xuất các vỏ bao diêm an toàn, pháo hoa và nhất là

    mêtamphếtamin

    (C10H15N).

  • Với một lượng nhỏ, phốtpho được dùng như là chất thêm vào cho các loại bán dẫn loại n.
  • Phốtpho P32 và phốtpho P33 được dùng như là các chất phát hiện dấu vết phóng xạ trong các phòng thí nghiệm

    hóa sinh học

    (xem Đồng vị dưới đây)

Vai trò sinh học[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Phốtpho là nguyên tố quan trọng trong mọi dạng hình sự sống đã biết. Phốtpho vô cơ trong dạng

phốtphat

PO43- đóng một vai trò quan trọng trong các phân tử sinh học như

ADN

ARN

trong đó nó tạo thành một phần của phần cấu trúc cốt tủy của các phân tử này. Các tế bào sống cũng sử dụng phốtphat để vận chuyển

năng lượng

tế bào thông qua

ađênôsin triphốtphat

(ATP). Gần như mọi tiến trình trong tế bào có sử dụng năng lượng đều có nó trong dạng

ATP

. ATP cũng là quan trọng trong

phốtphat hóa

, một dạng điều chỉnh quan trọng trong các tế bào. Các

phốtpholipit

là thành phần cấu trúc chủ yếu của mọi màng tế bào. Các muối

phốtphat canxi

được các động vật dùng để làm cứng xương của chúng. Trung bình trong cơ thể người chứa khoảng gần 1 kg phốtpho, và khoảng ba phần tư số đó nằm trong xương và răng dưới dạng

apatit

. Một người lớn ăn uống đầy đủ tiêu thụ và bài tiết ra khoảng 1-3 g phốtpho trong ngày trong dạng phốtphat.

Theo thuật ngữ

sinh thái học

, phốtpho thường được coi là chất dinh dưỡng giới hạn trong nhiều môi trường, tức là khả năng có sẵn của phốtpho điều chỉnh tốc độ tăng trưởng của nhiều sinh vật. Trong các

hệ sinh thái

sự dư thừa phốtpho có thể là một vấn đề, đặc biệt là trong các hệ thủy sinh thái, xem thêm

sự dinh dưỡng tốt

bùng nổ tảo

.

Lịch sử[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Phốtpho (từ tiếng Hy Lạp phosphoros, có nghĩa là “vật mang ánh sáng” và nó cũng là tên gọi cổ đại của

Sao Kim

) đã được nhà

giả kim thuật

người

Đức

Hennig Brand

tình cờ phát hiện ra năm

1669

thông qua việc điều chế (ông đã chưng cất 60 xô nước tiểu)

nước tiểu

để biến chúng thành

vàng

. Làm việc ở

Hamburg

, Brand đã cố gắng chưng cất các muối bằng cách cho bay hơi nước tiểu, và trong quá trình đó ông đã thu được một khoáng chất màu trắng phát sáng trong bóng đêm và cháy sáng rực rỡ. Kể từ đó, từ

lân quang

, liên quan đến các ánh sáng

lân tinh

của phốtpho, đã được sử dụng để miêu tả các chất phát sáng trong bóng tối mà không cần cháy. Tuy nhiên bản chất vật lý của hiện tượng lân quang không trùng với cơ chế phát sáng của phốtpho: Brand đã không nhận ra rằng thực tế phốtpho cháy âm ỉ khi phát sáng.

Các loại diêm đầu tiên sử dụng phốtpho trắng trong thành phần của chúng, nó là nguy hiểm do độc tính của

phốtpho trắng

. Các trường hợp giết người, tự sát và các vụ ngộ độc ngẫu nhiên là hậu quả của việc sử dụng chất này. Ngoài ra, sự phơi nhiễm trước hơi phốtpho đã làm cho nhiều công nhân bị mắc chứng bệnh

hoại tử xương hàm

. Khi phốtpho đỏ được phát hiện, khả năng cháy kém hơn cũng như độc tính thấp hơn của nó đã làm cho dạng phốtpho này được nhanh chóng chấp nhận như là một chất thay thế cho phốtpho trắng trong sản xuất

diêm.

Xem thêm: Tổng hợp về hàm số mũ logarit đầy đủ và chi tiết nhất-Toán cấp 3

Sự phổ biến[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Do độ hoạt động hóa học cao đối với

ôxy

trong không khí và các hợp chất chứa ôxy khác nên phốtpho trong tự nhiên không tồn tại ở dạng đơn chất, mà nó phân bổ rộng rãi trong các loại khoáng chất khác nhau. Các loại đá phốtphat, trong đó một phần cấu tạo là

apatit

(khoáng chất chứa

phốtphat tricanxi

dạng không tinh khiết) là một nguồn quan trọng về mặt thương mại của nguyên tố này. Các mỏ apatit lớn có ở

Nga

,

Maroc

,

Florida

,

Idaho

,

Tennessee

,

Utah

v.v. Tại

Việt Nam

có mỏ apatit tại

Lào Cai

. Tuy nhiên, đang có các e ngại là các mỏ apatit sẽ nhanh chóng cạn kiệt. Hoa Kỳ sẽ không còn các mỏ

apatit

vào khoảng năm

2035

.

Trung Quốc

Maroc

sở hữu các mỏ apatit lớn nhất đã biết hiện nay, nhưng rồi chúng cũng sẽ cạn kiệt. Cùng với sự cạn kiệt các mỏ này thì sẽ nảy sinh các vấn đề nghiêm trọng đối với việc sản xuất lương thực, thực phẩm của thế giới do phốtpho là một thành phần cơ bản trong các loại phân bón.

Thù hình màu trắng của phốtpho có thể được sản xuất theo nhiều cách khác nhau. Trong một quy trình,

phốtphat tricanxi

thu được từ các loại đá phốtphat, được nung nóng trong các lò nung với sự có mặt của

cacbon

silica

. Phốtpho dạng nguyên tố sau đó được giải phóng dưới dạng hơi và được thu thập lại dưới dạng axít phốtphoric.

Phòng ngừa[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Đây là nguyên tố có độc tính với 50 mg là liều trung bình gây chết người (phốtpho trắng nói chung được coi là dạng độc hại của phốtpho trong khi phốtphat và orthophốtphat lại là các chất dinh dưỡng thiết yếu). Thù hình phốtpho trắng cần được bảo quản dưới dạng ngâm nước do nó có độ hoạt động hóa học rất cao với ôxy trong khí quyển và gây ra nguy hiểm cháy và thao tác với nó cần được thực hiện bằng kẹp chuyên dụng do việc tiếp xúc trực tiếp với da có thể sinh ra các vết bỏng nghiêm trọng. Ngộ độc mãn tính phốtpho trắng đối với các công nhân không được trang bị bảo hộ lao động tốt dẫn đến chứng

chết hoại xương hàm

. Nuốt phải phốtpho trắng có thể sinh ra tình trạng mà trong y tế gọi là “hội chứng phân bốc khói”. Các hợp chất hữu cơ của phốtpho tạo ra một lớp lớn các chất, một số trong đó là cực kỳ độc. Các

este

florophốtphat

thuộc về số các

chất độc thần kinh

có hiệu lực mạnh nhất mà người ta đã biết. Một loạt các hợp chất hữu cơ chứa phốtpho được sử dụng bằng

độc tính

của chúng để làm các

thuốc trừ sâu

,

thuốc diệt cỏ

,

thuốc diệt nấm

v.v. Phần lớn các phốtphat vô cơ là tương đối không độc và là các chất dinh dưỡng thiết yếu.

Khi phốtpho trắng bị đưa ra ánh sáng Mặt Trời hay bị đốt nóng thành dạng hơi ở 250 °C thì nó chuyển thành dạng phốtpho đỏ, và nó không tự cháy trong không khí, do vậy nó không nguy hiểm như phốtpho trắng. Tuy nhiên, việc tiếp xúc với nó vẫn cần sự thận trọng do nó cũng có thể chuyển thành dạng phốtpho trắng trong một khoảng nhiệt độ nhất định và nó cũng tỏa ra khói có độc tính cao chứa các

ôxít

phốtpho khi bị đốt nóng.

Khi bị phơi nhiễm phốtpho, trong quá khứ người ta đề nghị rửa bằng dung dịch chứa 2%

sulfat đồng

CuSO4 để tạo ra một hợp chất không độc có thể rửa sạch. Tuy nhiên, theo báo cáo của

Hải quân Mỹ

Lưu trữ

2005-11-22 tại

Wayback Machine

gần đây thì “…sulfat đồng có độc tính và việc sử dụng nó sẽ được dừng lại. Sulfat đồng có thể gây độc cho thận và não cũng như phá hủy hồng cầu trong mạch máu.”

Hướng dẫn này cũng đề xuất thay thế là “dung dịch

bicacbonat

để trung hòa axít phốtphoric…”.

Có thể tìm thêm tài liệu về xử lý ngộ độc phốtpho tại

Emergency War Surgery NATO Handbook: Phần I: Types of Wounds and Injuries: Chương III: Burn Injury: Chemical Burns And White Phosphorus injury

.

Đồng vị[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Các

đồng vị

phóng xạ của phốtpho bao gồm:

  • P32: chất tạo bức xạ beta (1,71

    MeV

    ) với

    chu kỳ bán rã

    14,3 ngày. Nó được dùng trong các phòng thí nghiệm khoa học nghiên cứu về sự sống, chủ yếu để tạo ra các mẫu ADN và ARN đánh dấu phóng xạ, ví dụ để sử dụng trong các phương pháp

    đánh dấu Northern

    hay

    đánh dấu Southern

    . Do các hạt beta cao năng lượng được tạo ra thâm nhập qua da và giác mạc, và do bất kỳ lượng P32 nào được đi vào cơ thể theo các đường tiêu hóa, hô hấp hay hấp thụ qua các đường khác đều kết hợp lại trong xương và các

    axít nucleic

    ,

    OSHA

    yêu cầu là mọi người làm việc với P32 bắt buộc phải dùng quần áo bảo hộ, găng tay và kính bảo hộ, và phải tránh sự tiến hành công việc trên các thùng chứa hở để bảo vệ mắt. OSHA cũng yêu cầu phải có sự giám sát cá nhân, quần áo và bề mặt bị phơi nhiễm. Ngoài ra, do

    năng lượng

    cao của các

    hạt beta

    , thông thường người ta hay sử dụng các vật liệu nặng để che chắn (chẳng hạn

    chì

    ), nhưng điều này lại tạo ra bức xạ thứ cấp các

    tia X

    , thông qua một tiến trình được biết đến như là

    Bremsstrahlung

    , có nghĩa là bức xạ phanh. Vì thế, các tấm che phải kèm theo với các vật liệu nhẹ như

    plexiglas

    ,

    acrylic

    ,

    lucit

    ,

    chất dẻo

    , gỗ hay nước

    [1]

    Lưu trữ

    2006-02-20 tại

    Wayback Machine

    .

  • P33; chất tạo bức xạ beta (0,25 MeV) với

    chu kỳ bán rã

    25,4 ngày. Nó được dùng trong các phòng thí nghiệm khoa học về sự sống trong các ứng dụng mà

    bức xạ beta

    thấp năng lượng là ưu thế hơn, ví dụ trong

    sắp xếp chuỗi ADN

    .

Xem thêm: Sóng điện từ là gì? Nguyên tắc truyền thông tin của sóng

Hợp chất[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Amoni photphat

    ((NH4)3PO4)

  • Phốtphin

    (photpho trihydrua, PH3)

  • Canxi photphat

    (Ca3(PO4)2)

  • Supephotphat

    (Ca(H2PO4)2)

  • Canxi photphua

    (Ca3P2)

  • Sắt(III) photphat

    (FePO4)

  • Sắt(II) photphat

    (Fe3(PO4)2)

  • Axít hypophotphorơ

    (H3PO2)

  • Thuốc thử Lawesson

  • Parathion

  • Axít photphoric

    (H3PO4)

  • Axit phosphorơ

    (H3PO3)

  • Photpho pentabromua

    (PBr5)

  • Photpho pentoxit

    (P2O5)

  • Photpho tribromua

    (PBr3)

  • Photpho triclorua

    (PCl3)

  • Photpho triotua

    (PI3)

  • Sarin

    (C4H10FO2P)

  • Somon

  • Kali biphotphat

    (KH2PO4)

  • Natri photphat

    (Na3PO4)

  • VX

Tham khảo[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  1. ^

    webelements

  2. ^

    Ellis, Bobby D.; MacDonald, Charles L. B. (2006). “Phosphorus(I) Iodide: A Versatile Metathesis Reagent for the Synthesis of Low Oxidation State Phosphorus Compounds”. Inorganic Chemistry. 45 (17): 6864.

    doi

    :

    10.1021/ic060186o

    .

    PMID

     

    16903744

    .

  3. ^

    Magnetic susceptibility of the elements and inorganic compounds

    Lưu trữ

    2012-01-12 tại

    Wayback Machine

    , in Handbook of Chemistry and Physics 81st edition, CRC press.

  4. ^

    Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Bộ Khoa học và Công nghệ (2010).

    Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5530:2010 về Thuật ngữ hóa học – Danh pháp các nguyên tố và hợp chất hóa học

    . tr. 

    7

    .

    Bản gốc

    lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2020.

  • Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos National, Hoa Kỳ – Phốtpho

Liên kết ngoài[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • WebElements.com – Phốtpho

  • Entrez PubMed – Ngộ độc cấp tính phốtpho vàng

Lấy từ “

https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Phốtpho&oldid=64803084

Chuyên mục: Kiến thức

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Check Also
Close
Back to top button