Kiến thức

Quy tắc Klechkovsky – Wikipedia tiếng Việt

Quy tắc Klechkovsky

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới điều hướng

Bước tới tìm kiếm

Các electron chiếm các lớp và phân lớp electron của một nguyên tử theo quy tắc Klechkovsky

Thứ tự lấp đầy các orbital của vỏ nguyên tử bằng electron theo hướng của mũi tên

Quy tắc Klechkovsky (còn viết là Klechkowski), có tên khác là quy tắc Madelung

[1]

hay nguyên lý vững bền (tiếng Anhː aufbau principle hay building-up principle) phát biểu rằng ở

trạng thái cơ bản

của nguyên tử hoặc ion, các

electron

lấp đầy

orbital nguyên tử

ở mức năng lượng từ thấp đến cao. Ví dụ, electron sẽ chiếm phân lớp 1s trước phân lớp 2s. Theo cách này, các electron của

nguyên tử

hoặc

ion

tạo thành

cấu hình electron

ổn định nhất có thể. Một ví dụ là cấu hình 1s2 2s2 2p6 3s2 3p3 cho nguyên tử

phốtpho

, nghĩa là phân lớp 1s có 2 electron, phân lớp 2s có 2 electron… Quy tắc này được đề xuất bởi nhiều nhà hóa học, mà sau đó được gọi theo tên của

Vsevolod Klechkovsky

trong các tài liệu tiếng Việt.

Tính chất chiếm mức năng lượng của electron được xây dựng bởi các nguyên tắc khác của

vật lý nguyên tử

, như

quy tắc Hund

nguyên lý loại trừ Pauli

. Quy tắc Hund phát biểu rằng nếu có nhiều orbital cùng mức năng lượng, các electron sẽ chiếm các orbital khác nhau sao cho số electron độc thân là tối đa và các electron độc thân phải có spin cùng dấu. Khi các electron bắt cặp nhau, nguyên lý Pauli cho thấy các electron cùng orbital phải có

spin

khác nhau (+1/2 và −1/2).

Khi chúng ta đi từ nguyên tố này sang nguyên tố khác có số hiệu nguyên tử cao hơn liền kề, số proton và số electron của nguyên tử tăng thêm 1. Số electron tối đa trong bất kỳ lớp nào là 2n2, trong đó n

số lượng tử chính

. Số electron tối đa trong một phân lớp (s, p, d hoặc f) bằng 2(2ℓ + 1) trong đó ℓ = 0, 1, 2, 3… Do đó, các phân lớp này có thể có tối đa là 2, 6, 10 và 14 electron tương ứng. Ở trạng thái cơ bản, cấu hình electron được thiết lập bằng cách đặt các electron vào các phân lớp có mức năng lượng thấp nhất cho đến khi tổng số electron bằng với số hiệu nguyên tử. Các orbital nguyên tử được điền theo thứ tự năng lượng tăng dần, sử dụng hai quy tắc chung để giúp dự đoán cấu hình electron:

1. Các electron được gán cho các orbital theo thứ tự giá trị tăng dần của (n + ℓ).
2. Đối với các phân lớp có cùng giá trị (n + ℓ), các electron được gán trước cho phân lớp có n nhỏ hơn.

Một phiên bản của quy tắc Klechkovsky là

mô hình vỏ hạt nhân

(nuclear shell modell) được sử dụng để dự đoán cấu hình của các

proton

neutron

trong

hạt nhân nguyên tử

.

[2]

Xem thêm: Bảng Kê Công Suất Tiêu Thụ Thiết Bị Điện Gia Dụng

Diễn giải của quy tắc Klechkovsky[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Các phân lớp cùng bị mũi tên màu đỏ gạch ngang có cùng giá trị n+ℓ{displaystyle n+ell }. Đi từ trên xuống dưới theo mũi tên xanh là chiều tăng giá trị n+ℓ{displaystyle n+ell }, hướng của mũi tên màu đỏ cho biết thứ tự điền electron vào orbital

Trong các nguyên tử trung hòa ở trạng thái cơ bản, thứ tự gần đúng để điền electron vào các phân lớp được đưa ra theo quy tắc n + ℓ, còn được gọi là:

  • Quy tắc Madelung (đề xuất bởi

    Erwin Madelung

    );

  • Quy tắc Janet (đề xuất bởi

    Charles Janet

    );

  • Quy tắc Klechkowsky (đề xuất bởi

    Vsevolod Klechkovsky

    );

  • Nguyên lý vững bền;
  • Quy tắc đường chéo.

    [3]

Trong đó n đại diện cho

số lượng tử chính

số lượng tử xung lượng

; n là số nguyên thỏa mãn n ≥ 1 trong khi là số nguyên thỏa mãn 0 ≤ ℓ ≤ n – 1; các giá trị = 0, 1, 2, 3… tương ứng với các phân lớp s, p, df. Thứ tự phân lớp theo quy tắc này là:

1s → 2s → 2p → 3s → 3p → 4s → 3d → 4p → 5s → 4d → 5p → 6s → 4f → 5d → 6p → 7s → 5f → 6d → 7p → 8s →…

Ví dụ:

titan

(Z = 22) có cấu hình trạng thái cơ bản là 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 4s2 3d2.

[4]

Chú ý phân biệt thuật ngữː phân lớp ngoài cùng (có số lượng tử chính n lớn nhất trong cấu hình e nguyên tử) và phân lớp cuối cùng (chứa electron được điền cuối cùng có năng lượng cao nhất).

Một số tác giả viết các phân lớp luôn theo thứ tự tăng n, chẳng hạn như Ti (Z = 22) 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 3d2 4s2.

[5]

Đối với một nguyên tử trung hòa nhất định, hai cách viết thứ tự cấu hình electron trên là tương đương vì sự chiếm chỗ orbital của electron chỉ có có ý nghĩa vật lý.

Các orbital có giá trị n + ℓ thấp hơn được điền trước các orbital có giá trị n + ℓ cao hơn. Trong trường hợp giá trị n + ℓ bằng nhau, orbital có giá trị n thấp hơn được điền trước. Tính chất này của các electron được xác nhận bằng thực nghiệm thông qua đặc tính phổ của từng nguyên tố.

[6]

Quy tắc trật tự năng lượng Klechkovsky chỉ áp dụng cho các nguyên tử trung hòa ở trạng thái cơ bản và không đúng hoàn toàn cho tất cả nguyên tử do sự tương tác của một số electron với nhau đóng vai trò ngày càng quan trọng khi số hiệu nguyên tử lớn hơn, nhưng chưa được tính đến trong các quy tắc này. Có mười nguyên tố trong số các

kim loại chuyển tiếp

và mười nguyên tố trong nhóm

lantan

actini

mà quy tắc này dự đoán cấu hình electron khác với cấu hình thực nghiệm

[7]

[8]

là một số ngoại lệ.

Một số sách giáo khoa hóa học vô cơ mô tả quy tắc Klechkovsky về cơ bản là quy tắc thực nghiệm gần đúng với một số cơ sở lý thuyết,

[5]

dựa trên

mô hình Thomas – Fermi

của nguyên tử như một hệ cơ học lượng tử nhiều electron.

[9]

Ngoại lệ ở các kim loại chuyển tiếp[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Phân lớp d “mượn” một electron (trong trường hợp

paladi

là hai electron) từ phân lớp s để đạt trạng thái bão hòa electron bền vững. Trạng thái bán bão hòa (orbital đạt 50% số electron tối đa) cũng có sự ổn định năng lượng, dù kém hơn trạng thái bão hòa, là do mỗi orbital chỉ có một electron độc thân (theo quy tắc Hund), do đó lực đẩy electron-electron được giảm tối đa.

Nguyên tử

24 Cr

29 Cu

41 Nb

42 Mo

44 Ru

45 Rh

46 Pd

47 Ag

78 Pt

79 Au

Cấu hình electron lõi [Ar] [Ar] [Kr] [Kr] [Kr] [Kr] [Kr] [Kr] [Xe] [Xe]
Quy tắc Klechkovsky 3d4 4s2 3d9 4s2 4d3 5s2 4d4 5s2 4d6 5s2 4d7 5s2 4d8 5s2 4d9 5s2 4f14 5d8 6s2 4f14 5d9 6s2
Thực nghiệm 3d5 4s1 3d10 4s1 4d4 5s1 4d5 5s1 4d7 5s1 4d8 5s1 4d10 4d10 5s1 4f14 5d9 6s1 4f14 5d10 6s1

Ví dụ, ở

đồng

29Cu, theo quy tắc Klechkovsky, orbital 4s (n + ℓ = 4 + 0 = 4) bị chiếm trước orbital 3d (n + ℓ = 3 + 2 = 5). Quy tắc dự đoán cấu hình electron của đồng là 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 3d9 4s2, viết tắt [Ar] 3d9 4s2 trong đó [Ar] biểu thị cấu hình electron của

argon

, khí hiếm trước chu kỳ đó. Tuy nhiên, cấu hình electron thực nghiệm của nguyên tử đồng là [Ar] 3d10 4s1. Bằng cách mượn 1 electron từ orbital 4s để bão hòa

orbital

3d, cùng lúc thì orbital 4s cũng đạt trạng thái bán bão hòa. Lúc này đồng đạt trạng thái bền vững hơn, tức là có năng lượng thấp hơn. Giải thích tương tự như đồng, cấu hình electron ở 24Cr là [Ar] 3d5 4s1.

Ngoại lệ ở nhóm lantan và actini[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Phân lớp d thường “mượn” một electron (trong trường hợp thorium là hai electron) từ phân lớp f. Ví dụ, trong

urani

92U, theo quy tắc Klechkovsky, orbital 5f (n + ℓ = 5 + 3 = 8) bị chiếm trước orbital 6d (n + ℓ = 6 + 2 = 8). Quy tắc sau đó dự đoán cấu hình electron là [Rn] 5f 4 7s2 trong đó [Rn] biểu thị cấu hình của

radon

, khí hiếm trước chu kỳ đó. Tuy nhiên, cấu hình electron thực nghiệm của nguyên tử urani là [Rn] 5f 3 6d1 7s2.

Một ngoại lệ đặc biệt là

lawrenci

103Lr, trong đó electron 6d được dự đoán bởi quy tắc Klechkovsky được thay thế bằng electron 7p: quy tắc dự đoán cấu hình là [Rn] 5f14 6d1 7s2, nhưng cấu hình thực tế là [Rn] 5f14 7s2 7p1.

Nguyên tử

57 La

58 C

64 Gd

89 Ac

90 Th

91 Pa

92 U

93 Np

96 Cm

103 Lr

Cấu hình electron lõi [Xe] [Xe] [Xe] [Rn] [Rn] [Rn] [Rn] [Rn] [Rn] [Rn]
Quy tắc Klechkovsky 4f1 6s2 4f2 6s2 4f8 6s2 5f1 7s2 5f2 7s2 5f3 7s2 5f4 7s2 5f5 7s2 5f8 7s2 5f14 6d1 7s2
Thực nghiệm 5d1 6s2 4f1 5d1 6s2 4f7 5d1 6s2 6d1 7s2 6d2 7s2 5f2 6d1 7s2 5f3 6d1 7s2 5f4 6d1 7s2 5f7 6d1 7s2 5f14 7s2 7p1

Các cấu hình electron ngoài nguyên tố

104Rf

vẫn chưa được xác nhận hoặc chứng minh rõ ràng và từ

nguyên tố 120

về sau, quy tắc Klechkovsky dự kiến sẽ mất khả năng ứng dụng, nhường chỗ cho lý thuyết

hóa học lượng tử tương đối tính

(relativistic quantum chemistry).

Lịch sử[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Quy tắc Klechkovsky trong thuyết lượng tử mới[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Trong thuyết lượng tử cũ, các quỹ đạo có momen động lượng thấp (orbital sp) tiến gần đến hạt nhân hơn

Trong các tài liệu tiếng Anh, quy tắc Klechkovsky được gọi là aufbau principle (hay building-up principle, nguyên lý vững bền), lấy tên gốc từ tiếng Đức Aufbauprinzip, thay vì đặt tên của một nhà khoa học. Nó được xây dựng bởi

Niels Bohr

[10]

Wolfgang Pauli

vào đầu những năm 1920. Đây là một ứng dụng ban đầu của

cơ học lượng tử

cho các tính chất của

electron

và giải thích các tính chất hóa học theo thuật ngữ

vật lý

.

Trong thuyết lượng tử cũ (trước

cơ học lượng tử

), các electron được cho là chiếm các quỹ đạo hình elip cổ điển. Các quỹ đạo có

momen động lượng

cao nhất là “quỹ đạo tròn” chứa electron bên trong, nhưng các quỹ đạo có momen động lượng thấp (orbital sp) có

độ lệch tâm quỹ đạo

cao, do đó chúng tiến gần đến hạt nhân hơn và chịu

hiệu ứng lá chắn

yếu hơn các electron bên ngoài vì các electron này ít chịu tác dụng của điện trường tạo ra bởi điện tích âm của các electron khác ở xa hạt nhân hơn. Ở trạng thái cơ bản của

hydro

chỉ có 1 electron nên không có sự khác biệt về năng lượng giữa các quỹ đạo có cùng số lượng tử chính n, nhưng điều này không đúng với các electron vỏ ngoài của các nguyên tử nguyên tố khác.

Quy tắc sắp xếp năng lượng n + ℓ[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Một

bảng tuần hoàn

trong đó mỗi hàng tương ứng với một giá trị n + ℓ (các giá trị của n + ℓ tương ứng với các số lượng tử chính và xung lượng tương ứng) được

Charles Janet

đề xuất vào năm 1928. Vào năm 1930, ông đã đưa ra cơ sở lượng tử rõ ràng của bảng này, dựa trên kiến thức về trạng thái nguyên tử được xác định bằng phân tích phổ nguyên tử. Janet “điều chỉnh” một số giá trị n + ℓ thực tế của các nguyên tố, vì chúng không phù hợp với quy tắc sắp xếp năng lượng của ông và ông cho rằng sự sai khác số liệu xuất phát từ lỗi đo lường. Trong thực tế, các giá trị hiện nay là đúng và quy tắc sắp xếp năng lượng n + ℓ hóa ra là một xấp xỉ chứ không hoàn toàn chính xác.

Năm 1936, nhà vật lý người Đức

Erwin Madelung

đề xuất lý thuyết này như là một quy tắc thực nghiệm cho thứ tự lấp đầy các lớp vỏ nguyên tử. Do đó hầu hết các nguồn tiếng Anh gọi là quy tắc Madelung. Madelung có thể đã tìm ra quy tắc này sớm nhất vào năm 1926.

[11]

Năm 1962, nhà hóa học nông nghiệp người Nga

V.M. Klechkovsky

đề xuất giải thích lý thuyết đầu tiên về tầm quan trọng của tổng n + ℓ, dựa trên thống kê của

mô hình Thomas – Fermi

.

[12]

Do đó, nhiều nguồn tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Việt đặt tên là quy tắc Klechkovsky.

Cần chú ý là sự ion hóa để tạo ion dương tương ứng với sự mất electron ở lớp hoặc phân lớp ngoài cùng (lớp hóa trị, lớp có trị số lớn nhất trong cấu hình electron), chứ không ngược lại với thứ tự lấp đầy orbital trong nguyên tử trung hòa. Còn sự ion hóa tạo ion âm tương ứng với sự nhận electron vào phân lớp cuối cùng của nguyên tử. Ví dụ đối với ion dương, trong hàng thứ tư của bảng tuần hoàn, quy tắc Klechkovsky chỉ ra rằng orbital 4s bị chiếm trước 3d. Do đó, các cấu hình trạng thái cơ bản của nguyên tử trung hòa Sc = [Ar]4s2 3d1. Tuy nhiên, nếu một nguyên tử Sc bị ion hóa thì cấu hình là Sc+ = [Ar] 4s1 3d1, Sc2+ = [Ar] 3d1, tức là electron ở phân lớp ngoài cùng là 4s bị mất trước phân lớp 3d, dù phân lớp 3d được điền electron sau 4s.

Ngoài việc có nhiều bằng chứng thực nghiệm củng cố cho quan điểm này, nó giúp cho lời giải thích về thứ tự ion hóa các electron trong kim loại chuyển tiếp trở nên dễ hiểu hơn, cho rằng các electron 4s luôn được ưu tiên ion hóa.

[13]

Xem thêm: Cách dùng Who, Whom, Which, That, Whose trong tiếng Anh-Đại từ liên hệ(Relative pronouns)

Xem thêm[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Electron hóa trị

  • Quy tắc Wiswesser

Tham khảo[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  1. ^

    Richard Taillet (2009). Dictionnaire de physique (bằng tiếng Pháp) (ấn bản 2). De Boeck. tr. 307.

  2. ^

    Cottingham, W. N.; Greenwood, D. A. (1986). “Chapter 5: Ground state properties of nuclei: the shell model”. An introduction to nuclear physics. Cambridge University Press.

    ISBN

     

    0-521-31960-9

    .

  3. ^

    “Electron Configuration”

    .

    WyzAnt

    .

  4. ^

    Miessler, Gary L.; Tarr, Donald A. (1998). Inorganic Chemistry (ấn bản 2). Prentice Hall. tr. 38.

    ISBN

     

    0-13-841891-8

    .

  5. ^

    a

    ă

    Jolly, William L. (1984).

    Modern Inorganic Chemistry

    (ấn bản 1). McGraw-Hill. tr. 

    10

    -12.

    ISBN

     

    0-07-032760-2

    .

  6. ^

    Scerri, Eric R. (1998).

    “How Good Is the Quantum Mechanical Explanation of the Periodic System?”

    (PDF). Journal of Chemical Education. 75 (11): 1384–85.

    doi

    :

    10.1021/ed075p1384

    .

  7. ^

    Erwin Riedel (1990). Anorganische Chemie (bằng tiếng Đức) (ấn bản 2).

    ISBN

     

    3-11-012321-5

    .(cho các ngoại lệ của quy tắc Klechkovsky)

  8. ^

    Terry L. Meek & Leland C. Allen, (2002). “Configuration irregularities: deviations from the Madelung rule and inversion of orbital energy levels”. Chemical Physics Letters. 362 (5–6): 362–364.

    doi

    :

    10.1016/S0009-2614(02)00919-3

    .Quản lý CS1: dấu chấm câu dư (

    liên kết

    ) Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (

    liên kết

    )

  9. ^

    Wong, D. Pan (1979).

    “Theoretical justification of Madelung’s rule”

    . Journal of Chemical Education. 56 (11): 714.

  10. ^

    “Atomic structure”. Nature. 107: 104–107. 1921.

    doi

    :

    10.1038/107104a0

    . Đã bỏ qua tham số không rõ |Author= (gợi ý |author=) (

    trợ giúp

    )

  11. ^

    Goudsmit, S. A.; Richards, Paul I. (1964).

    “The Order of Electron Shells in Ionized Atoms”

    (PDF).

    Proc. Natl. Acad. Sci.

    51 (4): 664–671 (with correction on p 906).

    Bibcode

    :

    1964PNAS…51..664G

    .

    doi

    :

    10.1073/pnas.51.4.664

    .

    PMC

     

    300183

    .

  12. ^

    Wong, D. Pan (1979). “Theoretical justification of Madelung’s rule”.

    J. Chem. Educ.

    56 (11): 714–718.

    Bibcode

    :

    1979JChEd..56..714W

    .

    doi

    :

    10.1021/ed056p714

    .

  13. ^

    Scerri, Eric (ngày 7 tháng 11 năm 2013).

    “The Trouble With the Aufbau Principle”

    .

    Education in Chemistry

    .

    Royal Society of Chemistry

    . 50 (6): 24–26.

Xem thêm: Bài tập hàm số lượng giác-Tài liệu ôn tập Đại số 11-VnDoc.com

Tài liệu khác[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Image: Understanding order of shell filling

  • Boeyens, J. C. A.: Chemistry from First Principles. Berlin: Springer Science 2008,

    ISBN

    978-1-4020-8546-8

  • Forthie, R. (2012). Bases de Chimie Théorique (tiếng Pháp).
  • Ostrovsky, V.N. (2005). “On Recent Discussion Concerning Quantum Justification of the Periodic Table of the Elements”. Foundations of Chemistry. 7 (3): 235–39.

    doi

    :

    10.1007/s10698-005-2141-y

    .

  • Kitagawara, Y.; Barut, A.O. (1984). “On the dynamical symmetry of the periodic table. II. Modified Demkov-Ostrovsky atomic model”. J. Phys. B. 17 (21): 4251–59.

    Bibcode

    :

    1984JPhB…17.4251K

    .

    doi

    :

    10.1088/0022-3700/17/21/013

    .

  • Vanquickenborne, L. G. (1994).

    “Transition Metals and the Aufbau Principle”

    (PDF). Journal of Chemical Education. 71 (6): 469–471.

    Bibcode

    :

    1994JChEd..71..469V

    .

    doi

    :

    10.1021/ed071p469

    .

  • Scerri, E.R. (2017).

    “On the Madelung Rule”

    . Inference. 1 (3). Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (

    trợ giúp

    )

Liên kết ngoài[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Electron Configurations, the Aufbau Principle, Degenerate Orbitals, and Hund’s Rule

    from

    Purdue University

Lấy từ “

https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Quy_tắc_Klechkovsky&oldid=64544000

Chuyên mục: Kiến thức

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Check Also
Close
Back to top button