Kiến thức

USS Edward C. Daly (DE-17) – Wikipedia tiếng Việt

USS Edward C. Daly (DE-17)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới điều hướng

Bước tới tìm kiếm

USS Edward C. Daly (DE-17) off the Mare Island Naval Shipyard, 26 February 1945 (19-N-79880).jpg

Tàu khu trục hộ tống USS Edward C. Daly (DE-17) ngoài khơi Xưởng hải quân Mare Island, ngày 26 tháng 2 năm 1945.
Lịch sử
Hoa Kỳ
Tên gọi USS Edward C. Daly (DE-17)
Đặt tên theo Edward C. Daly
Hãng đóng tàu

Xưởng hải quân Mare Island

,

Vallejo

,

California

Đặt lườn

1 tháng 4

năm

1942

Hạ thủy

21 tháng 10

năm

1942

như là chiếc HMS Byard (BDE-17)

Đỡ đầu bởi bà Diane L. S. McQuilkin
Nhập biên chế

3 tháng 4

năm

1943

như là chiếc USS Edward C. Daly (DE-17)

Xuất biên chế

20 tháng 12

năm

1945

Xóa đăng bạ

8 tháng 1

năm

1946

Số phận Bán để tháo dỡ,

18 tháng 3

năm

1947

Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu

lớp tàu khu trục hộ tống Evarts

Trọng tải choán nước

  • 1.140 tấn Anh (1.160 t) (tiêu chuẩn);
  • 1.430 tấn Anh (1.450 t) (đầy tải)
Độ dài
  • 283 ft 6 in (86,41 m) (mực nước);
  • 289 ft 5 in (88,21 m) (chung)

Sườn ngang

35 ft 1 in (10,69 m)

Mớn nước

8 ft 3 in (2,51 m)
Công suất lắp đặt 6.000 

hp

(4.500 kW)

Động cơ đẩy
  • 4 ×

    động cơ diesel

    General Motors

    Kiểu 16-278A với máy phát điện;

  • 2 × trục chân vịt
Tốc độ 21 

kn

(24 mph; 39 km/h)

Tầm xa 4.150 

nmi

(4.780 dặm; 7.690 km) ở vận tốc 12 kn (14 mph; 22 km/h)

Thủy thủ đoàn
đầy đủ
  • 15 sĩ quan;
  • 183 thủy thủ
Hệ thống cảm biến
và xử lý
  • Radar

    kiểu SA & SL

  • Sonar

    Kiểu 128D hoặc Kiểu 144

  • Ăn-ten định vị MF
  • Ăn-ten định vị cao tần Kiểu FH 4
Vũ trang
  • 3 ×

    pháo 3 in (76 mm)/50 cal

    đa dụng (3×1);

  • 4 × pháo

    phòng không

    1,1 inch/75 caliber

    (1×4);

  • 9 × pháo phòng không

    Oerlikon 20 mm

    (9×1);

  • 8 × máy phóng

    mìn sâu

    K3;

  • 1 ×

    súng cối

    chống tàu ngầm

    Hedgehog

    (24 nòng, 144 quả đạn);

  • 2 × đường ray thả mìn sâu

USS Edward C. Daly (DE-17) là một

tàu khu trục hộ tống

lớp Evarts

được

Hải quân Hoa Kỳ

chế tạo trong

Chiến tranh Thế giới thứ hai

. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Mỹ được đặt theo tên thủy thủ

Edward C. Daly

(1914-1941), phục vụ trên

tàu khu trục

Downes (DD-375)

và tử trận trong vụ

Tấn công Trân Châu Cảng

ngày

7 tháng 12

năm

1941

; ông được truy tặng

Huân chương Chữ thập Hải quân

.

[1]

Nó đã phục vụ cho đến khi chiến tranh kết thúc, xuất biên chế vào ngày

20 tháng 12

năm

1945

và xóa đăng bạ vào ngày

8 tháng 1

năm

1946

. Con tàu bị bán để tháo dỡ vào ngày

18 tháng 3

năm

1947

.

Xem thêm: Công thức tính điện trở-điện trở suất

Thiết kế và chế tạo[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Những chiếc thuộc lớp tàu khu trục Evarts có chiều dài chung 289 ft 5 in (88,21 m), mạn tàu rộng 35 ft 1 in (10,69 m) và độ sâu mớn nước khi đầy tải là 8 ft 3 in (2,51 m). Chúng có

trọng lượng choán nước

tiêu chuẩn 1.140 tấn Anh (1.160 t); và lên đến 1.430 tấn Anh (1.450 t) khi đầy tải. Hệ thống động lực bao gồm bốn

động cơ diesel

General Motors

Kiểu 16-278A nối với bốn máy phát điện để vận hành hai trục chân vịt; công suất 6.000 

hp

(4.500 kW) cho phép đạt được tốc độ tối đa 21 

kn

(24 mph; 39 km/h), và có dự trữ hành trình 4.150 

nmi

(4.780 dặm; 7.690 km) khi di chuyển ở vận tốc đường trường 12 kn (14 mph; 22 km/h).

[2]

Vũ khí trang bị bao gồm ba

pháo 3 in (76 mm)/50 cal

trên tháp pháo nòng đơn có thể đối hạm hoặc phòng không, một khẩu đội

1,1 inch/75 caliber

bốn nòng và chín pháo phòng không

Oerlikon 20 mm

. Vũ khí chống ngầm bao gồm một dàn

súng cối

chống tàu ngầm

Hedgehog

Mk. 10 (có 24 nòng và mang theo 144 quả đạn); hai đường ray Mk. 9 và tám máy phóng K3 Mk. 6 để thả

mìn sâu

.

[2]

Nguyên được dự định chuyển giao cho

Hải quân Hoàng gia Anh

, Edward C. Daly được đặt lườn như là chiếc HMS Byard (BDE-17) tại

Xưởng hải quân Mare Island

, ở

Vallejo

,

California

vào ngày

1 tháng 4

năm

1942

. Nó được hạ thủy vào ngày

21 tháng 10

năm

1942

, và được đỡ đầu bởi bà Diane L. S. McQuilkin. Tuy nhiên kế hoạch chuyển giao bị hủy bỏ, nên con tàu quay trở lại sở hữu của Hoa Kỳ và đổi tên thành Edward C. Daly vào ngày

19 tháng 2

năm

1943

. Nó nhập biên chế cùng Hải quân Hoa Kỳ vào ngày

3 tháng 4

năm

1943

dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng,

Trung tá Hải quân

G. A. Parkinson.

[1]

Lịch sử hoạt động[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

1943[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Edward C. Daly tiến hành chạy thử máy tại

vịnh San Pablo

, một nhánh của

vịnh San Francisco

và là địa điểm của Xưởng hải quân Mare Island, từ ngày

11 tháng 4

,

1943

. Nó lên đường đi

San Diego, California

vào ngày

19 tháng 4

, và tiếp tục huấn luyện hộ tống vận tải và chống tàu ngầm trong nhiều tuần tiếp theo, phối hợp cùng các

tàu khu trục

McCook (DD-496)

Rathburne (DD-117)

,

tàu quét mìn

Herald (AM-101)

, các

tàu cutter

tuần duyên

USCGC Morris (WPC-147)

USCGC Perseus (WPC-114)

cùng các

tàu ngầm

S-34 (SS-139)

S-45 (SS-156)

.

[1]

Khởi hành từ San Diego vào ngày

22 tháng 4

để đi sang khu vực

quần đảo Hawaii

, Edward C. Daly bắt đầu đảm nhiệm hộ tống cho các đoàn tàu vận tải đi lại giữa

Trân Châu Cảng

và San Francisco. Đây là lần đầu tiên một chiếc tàu khu trục hộ tống ghé đến Trân Châu Cảng, nên nhiều quan chức cao cấp, bao gồm

Đô đốc

Chester W. Nimitz

Tổng tư lệnh

Hạm đội Thái Bình Dương

và Đô đốc

Raymond A. Spruance

, đã viếng thăm và thị sát con tàu. Nó tham gia Đoàn tàu 4453, bao gồm tàu chở quân

SS Santa Cruz (1941)

, một tàu

LST

và 12 tàu buôn để đi San Francisco từ ngày

30 tháng 5

đến ngày

9 tháng 6

. Sau đó nó tiếp tục phục vụ tại vùng biển giữa

Honolulu

và San Francisco, đồng thời phục vụ như tàu huấn luyện

sonar

tại Trân Châu Cảng.

[1]

Edward C. Daly được phái sang khu vực

Funafuti

thuộc

quần đảo Ellice

vào ngày

14 tháng 8

, hộ tống cho

tàu vận tải tấn công

Ormsby (APA-49)

trên đường đi. Đi đến

Fongafale

thuộc Funafuti vào ngày

21 tháng 8

, nó làm nhiệm vụ hộ tống tàu chiến và tàu buôn tại khu vực cũng như các chuyến khứ hồi đến Trân Châu Châu Cảng. Vào đêm

12 tháng 9

, máy bay Nhật không kích Funafuti, gây bất ngờ cho phần lớn tàu chiến tại chỗ, nhưng Edward C. Daly nhanh chóng báo động tác chiến và nổ súng đánh trả; trong đêm đó quân Nhật còn tiếp tục không kích thêm ba lượt nữa, cách nhau mỗi đợt khoảng 45 phút, đợt cuối cùng diễn ra lúc 04 giờ 53 phút ngày

13 tháng 9

và kéo dài trong mười phút. Các cuộc không kích đã không thể được phát hiện sớm vì máy bay đối phương tiếp cận từ độ cao 25.000 ft (7.600 m); có tổng cộng 15

máy bay ném bom

Nhật Bản đã tham gia cuộc không kích, và cho dù chúng đã gây một số thiệt hại, Edward C. Daly thoát được mà không bị hư hại, và hỏa lực phòng không phía Hoa Kỳ đã bắn rơi một máy bay đối phương.

[1]

Vào giữa

tháng 9

,

1943

, Edward C. Daly hộ tống cho nhiều tàu bè tại vị trí khoảng 250 nmi (460 km) về phía đông Bắc đảo Nanomea trước khi chuyển sang khu vực

Pago Pago

,

Samoa thuộc Mỹ

. Vào ngày

5 tháng 10

, nó đi đến tiếp cứu cho một

thủy phi cơ

PBY-5A Catalina

thuộc Liên đội 13

Thủy quân Lục chiến

xuất phát từ Funafuti bị rơi trên biển.

Đại úy

phi công Paul J. Sax đã đáp chiếc PBY-5 trên mặt biển để cứu vớt đội bay một máy bay khác bị rơi, nhưng ông thiệt mạng khi tìm cách cất cánh máy bay của mình trong khi biển động mạnh. Con tàu đi đến hiện trường lúc 23 giờ 00 khi chiếc Catalina đang cháy, và thả xuồng để tìm kiếm những người sống sót, nó quay trở lại với chín thành viên của các đội bay. Con tàu tạm thời phải ngừng việc tìm kiếm sau khi sonar của nó dò được tín hiệu khả nghi; và sau khi mất tín hiệu mục tiêu nó tiếp tục việc tìm kiếm, cứu được thêm bảy người trên biển cùng một thi thể. Nó tìm cách thu hồi chiếc thủy phi cơ, nhưng biển động mạnh làm cho công việc này trở nên rất nguy hiểm. Hải pháo đã đánh chìm chiếc Catalina lúc 03 giờ 30 phút ngày

6 tháng 10

, và Edward C. Daly làm nghi thức mai táng trên biển cho Đại úy Sax tại vị trí khoảng 640 nmi (1.190 km) về phía Đông Nam Funafuti.

[1]

Edward C. Daly đưa những thành viên đội bay được cứu vớt đến

đảo Canton

rồi quay trở về Funafuti vào ngày

11 tháng 10

. Nó lên đường đi Trân Châu Cảng ngay ngày hôm sau, rồi rời

Oahu

vào ngày

18 tháng 10

để đi San Francisco; nó sáp nhập cùng tàu khu trục

Halford (DD-480)

và Đoàn tàu 18345 trên đường đi hai ngày sau đó. Đi đến San Francisco vào ngày

27 tháng 10

, nó chuyển đến xưởng tàu của hãng

Bethlehem Steel

để được bảo trì, rồi đi Treasure Island đến

25 tháng 11

. Ba ngày sau đó nó khởi hành hướng lên phía Bắc để phục vụ tại khu vực

Bắc Thái Bình Dương

; trên đường đi nó phải chịu đựng thời tiết khắc nghiệt với gió ngược và những cơn sóng cao đến 75 ft (23 m) vào các ngày

29

30 tháng 11

. Cuối cùng con tàu cũng đến được vịnh Kuluk,

Adak, Alaska

vào ngày

8 tháng 12

. Ngoại trừ một chuyến đi ngắn đến khu vực thực tập tác xạ trong các ngày

23

24 tháng 12

, nó ở lại cảng cho đến đầu năm

1944

.

[1]

1944[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Vào ngày

2 tháng 1

,

1944

, Edward C. Daly di chuyển đến vịnh Finger, Adak. Nó phát hiện vòm

sonar

dưới nước bị tách rời, nên phải vào ụ tàu để sửa chữa từ ngày

2

đến ngày

4 tháng 1

trước khi quay trở lại vịnh Kuluk. Nó gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 91 vào ngày

6 tháng 1

cho những hoạt động tại khu vực

quần đảo Aleut

, bắt đầu bằng việc hộ tống chiếc tàu chở quân Toloa đi từ

đảo Attu

đến đảo

Kiska

.

[1]

Edward C. Daly dành trọn năm

1944

cho hoạt động hộ tống nhiều tàu hải quân và tàu buôn đi lại giữa các đảo tại khu vực quần đảo Aleut; nó cũng phục vụ như tàu khảo sát thời tiết và cột mốc vô tuyến dẫn đường phục vụ cho những cuộc ném bom xuống đảo

Paramushiro

xuất phát từ Attu. Những cuộc đụng độ với lực lượng đối phương thực sự thì hiếm hoi, nhưng con tàu nhiều lần bước vào báo động tác chiến do nhầm lẫn; nhiều dịp

radar

trên tàu phát hiện máy bay lạ tiếp cận, để rồi nhận ra “mục tiêu” là máy bay Đồng Minh quên bật bộ truy vấn vô tuyến bạn-thù (IFF: identification friend or foe). Lúc 04 giờ 55 phút ngày

24 tháng 3

, nó phát hiện qua radar một mục tiêu trên mặt nước, nghi ngờ là tàu ngầm đối phương xâm nhập qua hàng rào phòng thủ, nên báo động tác chiến và tiếp cận mục tiêu. Nó phát tín hiệu vô tuyến truy vấn đối tượng lúc 05 giờ 20 phút, nhưng đối tượng hồi đáp sai mật mã; và khi tiếp cận đến tầm nhìn bằng mắt thường, trinh sát viên nhận ra mục tiêu là tàu nổi chứ không phải tàu ngầm. Chiếc tàu khu trục bắt đầu hướng các khẩu pháo vào mục tiêu và truy vấn đối thủ lần cuối cùng qua vô tuyến, để kịp nhận ra “mục tiêu” là chiếc

tàu kéo

Tatnuck (ATO-27)

.

[1]

Trong một dịp khác vào ngày

13 tháng 4

, đang khi hộ tống cho

tàu Liberty

Carl Schurz

tàu chở dầu

Mission Solano đi Dutch Harbor, Alaska, Edward C. Daly dò được tín hiệu

sonar

ngầm dưới nước, có khả năng là tàu ngầm đối phương. Sonar của con tàu xác định mục tiêu đang di chuyển, nhưng đã tiếp tục cơ động quanh khu vực trong 20 phút để xác nhận mục tiêu, trước khi tấn công với một loạt đạn

súng cối

chống ngầm

Hedgehog

. Mục tiêu trôi dạt sang mạn trái, nên con tàu cũng chuyển hướng theo đối tượng; nhưng loạt đạn cối Hedgehog lại phát nổ tại độ sâu ước lượng khoảng 475 ft (145 m), ở một khu vực mà hải đồ chỉ ra độ sâu chỉ có 400 ft (120 m). Tàu khu trục

Isherwood (DD-520)

vốn đang hoạt động lân cận trong một nhiệm vụ khác được phái đến trợ giúp, và Edward C. Daly bàn giao lại đối tượng cho Isherwood để tiếp tục nhiệm vụ hộ tống. Sau khi điều tra, Isherwood xác định Edward C. Daly đã tấn công một dãi đá ngầm dưới đáy biển. Năm ngày sau đó,

18 tháng 4

, Edward C. Daly quay trở lại khu vực và tiếp tục phát hiện tín hiệu sonar tương tự, xác nhận giả thuyết trong báo cáo của Isherwood.

[1]

1945[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Vào ngày

13 tháng 1

,

1945

, Edward C. Daly cùng các tàu chị em

Gilmore (DE-18)

Doneff (DE-49)

rời khu vực quần đảo Aleut để quay trở về San Francisco. Con tàu được đại tu từ ngày

19 tháng 1

đến ngày

25 tháng 2

, rồi ra khơi vào ngày

26 tháng 2

để thử nghiệm sonar ngoài khơi Point Chauncey thuộc

vịnh San Francisco

. Nó cùng Doneff trong thành phần Đơn vị Đặc nhiệm 6.12.1 lên đường vào ngày

2 tháng 3

để đi Trân Châu Cảng, và trong nữa tháng tiếp theo con tàu hoạt động huấn luyện chống tàu ngầm và tác xạ tại khu vực

quần đảo Hawaii

. Đến ngày

20 tháng 3

, nó cùng Doneff,

Engstrom (DE-50)

Austin (DE-15)

trong thành phần Đơn vị Đặc nhiệm 19.8.17 lên đường đi

Eniwetok

thuộc

quần đảo Marshall

; lực lượng sau đó còn có sự tham gia của các tàu thuộc Đội hộ tống 14:

Gilmore (DE-18)

;

Clearfield (APA-42)

;

Arenac (APA-128)

;

Windsor (APA-55)

;

J. Franklin Bell (APA-16)

;

General Omar Bundy (AP-152)

; và

Sherburne (APA-205)

. Hải đội đi đến Eniwetok vào ngày

30 tháng 3

.

[1]

Edward C. Daly đã phục vụ hộ tống tàu bè đi lại giữa Eniwetok và

Guam

thuộc

quần đảo Mariana

trong

tháng 4

trước khi chuyển sang hoạt động tại khu vực

Saipan

. Nó tiếp tục phục vụ hộ tống các đoàn tàu đi lại giữa Saipan và

Iwo Jima

thuộc

quần đảo Kazan

, tuần tra chống tàu ngầm tại khu vực phụ cận Saipan đồng thời tìm kiếm và giải cứu những máy bay bị rơi trong khu vực. Nó đã tháp tùng bảo vệ cho

tàu sân bay hộ tống

Anh Quốc

HMS Ranee (D03)

đi từ Eniwetok đến Guam từ ngày

5

đến ngày

10 tháng 4

. Đang khi hộ tống một đoàn tàu vận tải đi Iwo Jima vào ngày

1 tháng 6

, lúc 03 giờ 55 phút trinh sát viên trên tàu nhìn thấy đèn hạ cánh của một máy bay; chiếc

máy bay ném bom

Boeing B-29 Superfortress

thuộc Không đoàn XXI

Không lực Lục quân Hoa Kỳ

bị cháy động cơ và bị buộc phải hạ cánh trên biển bên mạn phải chiếc tàu khu trục hộ tống. Edward C. Daly đã lập tức báo động và chuyển hướng để hoạt động cứu nạn, vớt được sáu thành viên của đội bay; hai thành viên đội bay khác được

tàu chở dầu

Sequatchie (AOG-21)

cứu vớt.

[1]

Đoàn tàu tiếp tục hành trình đi Iwo Jima, nơi Edward C. Daly được bảo trì từ ngày

3

đến ngày

13 tháng 6

. Quay trở lại hoạt động, nó tiếp tục phục vụ hộ tống vận tải tại khu vực giữa Saipan và Iwo Jima, và sau khi

chiến dịch Okinawa

kết thúc, nó phục vụ hộ tống vận tải cho tàu bè đi đến vịnh Buckner, Okinawa. Trong phần lớn

tháng 8

, nó tuần tra để phục vụ tìm kiếm và giải cứu tại khu vực về phía Tây Bắc Saipan khoảng 200 nmi (370 km), một vị trí chỉ cách đảo chính quốc Nhật Bản

Honshū

1.000 nmi (1.900 km), rồi đến ngày

21 tháng 8

nó quay trở lại nhiệm vụ hộ tống vận tải tại khu vực giữa Saipan và Iwo Jima.

[1]

Vào ngày

28 tháng 8

, Edward C. Daly cùng với

Gendreau (DE-639)

hộ tống cho thiết giáp hạm

Pennsylvania (BB-38)

bị hư hại do trúng bom được các

tàu kéo

Serrano (ATF-112)

Tenino (ATF-115)

kéo quay trở về Guam để sửa chữa; họ về đến Guam vào ngày

6 tháng 9

. Nó quay trở lại Saipan vào ngày

9 tháng 9

, rồi đi đến Guam và ở lại đây cho đến ngày

21 tháng 9

trước khi tuần tra tại khu vực

Truk

thuộc

quần đảo Caroline

từ ngày

22

đến ngày

30 tháng 9

.

[1]

Edward C. Daly tiếp tục ở lại Guam cho đến khi nó thực hành huấn luyện cùng với

tàu ngầm

Blueback (SS-326)

vào ngày

7 tháng 10

. Lúc đang trên đường quay trở lại cảng, nó được lệnh đổi hướng lúc 14 giờ 45 phút để tìm kiếm một máy bay ném bom B-29 Superfortress bị rơi trên biển ở về phía Tây Bắc Guam khoảng 334 nmi (619 km). Chiếc máy bay chở theo Chuẩn tướng Không quân Joseph L. Loutzenhiser và ban tham mưu của ông trên đường từ Okinawa và Guam. Công việc tìm kiếm với sự trợ giúp của thủy phi cơ và các tàu chiến kéo dài cho đến ngày

16 tháng 10

, cứu được ba thành viên đội bay và tìm thấy thi thể hai người khác, nhưng không thể phát hiện Loutzenhiser cùng bốn người khác.

[1]

Edward C. Daly khởi hành từ Guam vào ngày

22 tháng 10

để đi Trân Châu Cảng ngang qua Eniwetok, rồi tiếp tục hành trình để quay trở về Hoa Kỳ. Nó về đến

Long Beach, California

vào ngày

5 tháng 11

, và được cho xuất biên chế tại

San Pedro, California

vào ngày

20 tháng 12

,

1945

. Tên nó được cho rút khỏi danh sách

Đăng bạ Hải quân

vào ngày

1 tháng 1

,

1946

, và cuối cùng nó bị bán cho hãng Pacific Bridge Co. tại

San Francisco

để tháo dỡ vào ngày

11 tháng 11

,

1946

.

[2]

[1]

Xem thêm: Cách bấm casio tìm phương trình tiếp tuyến của hàm số-Công thức nguyên hàm

Phần thưởng

[2]

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Bản mẫu:Ribbon devices/alt

Bản mẫu:Ribbon devices/alt

Bản mẫu:Ribbon devices/alt

Huân chương Chiến dịch Hoa Kỳ

Huân chương Chiến dịch Châu Á-Thái Bình Dương

Huân chương Chiến thắng Thế Chiến II

Xem thêm: Khối lượng riêng inox 304/316/201 [Bảng tra & cách tính ]-Inox nhập khẩu

Tham khảo[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Chú thích[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  1. ^

    a

    ă

    â

    b

    c

    d

    đ

    e

    ê

    g

    h

    i

    k

    l

    m

    n

    Naval Historical Center

    .

    Edward C. Daly (DE-17)

    .

    Dictionary of American Naval Fighting Ships

    .

    Navy Department

    ,

    Naval History and Heritage Command

    . Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2021.

  2. ^

    a

    ă

    â

    b

    “USS Edward C. Daly (DE-17)”

    . NavSource.org. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2021.

Thư mục[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Naval Historical Center

    .

    Edward C. Daly (DE-17)

    .

    Dictionary of American Naval Fighting Ships

    .

    Navy Department

    ,

    Naval History and Heritage Command

    . Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2021.

Liên kết ngoài[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • NavSource Online: Destroyer Escort Photo Archive – USS Edward C. Daly (DE-17)

Lấy từ “

https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=USS_Edward_C._Daly_(DE-17)&oldid=64882060

Chuyên mục: Kiến thức

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Check Also
Close
Back to top button